Chi tiết

Kho Tàng Ân Phước – Nghi Quỹ Phật Thích Ca Mâu Ni – bài giảng

Giảng viên: 
Bộ sưu tập: 
  • Nghi Quỹ và Các Bài Nguyện
Vị trí: 
  • Tu viện Ka-Nying Shedrub Ling
Người dịch: 
  • LyLy
Khoảng thời gian: 
  • Thời lượng Trung Bình (<45 phút)
Đặc trưng: 
  • Phụ đề ,
  • Bản chép lời
Trích đoạn
Bài giảng giới thiệu tổng quan bởi Khenpo Pema Namgyal, cung cấp hướng dẫn về các bước thực hành trong Kho Tàng Ân Phước – Nghi Quỹ Phật Thích Ca Mâu Ni.
Mô tả

Bài giảng giới thiệu tổng quan bởi Khenpo Pema Namgyal, cung cấp hướng dẫn về các bước thực hành trong Kho Tàng Ân Phước – Nghi Quỹ Phật Thích Ca Mâu Ni.

Thông tin khóa học liên quan
Tham quan khóa học:
  • Kho Tàng Ân Phước – Nghi Quỹ Phật Thích Ca Mâu Ni Khenpo Pema Namgyal tụng nghi quỹ ‘Kho Tàng Ân Phước’ bằng tiếng Tạng. Các bạn có thể dễ dàng thực hành tụng và theo dõi cùng với Khenpo Pema Namgyal, nhờ vào hệ thống phụ đề đầy đủ bao gồm: Tiếng Tạng (bản kinh gốc), Phiên âm (để dễ dàng phát âm), Dịch nghĩa tiếng Việt (hiển thị tương ứng với từng câu tụng)
Băng hình
Âm thanh
video
play-rounded-outline
44:53
 
Languagevi_VN
Mọi người hãy hướng tâm mình về quả giác ngộ và lắng nghe giáo Pháp.
Chủ đề hôm nay của chúng ta là cách sử dụng nghi quỹ Phật Thích Ca Mâu Ni
làm phương tiện để thực hành định, tuệ.
Tựa đề của thực hành này là Kho Tàng Ân Phước-Nghi Quỹ Phật Thích Ca Mâu Ni.
Khi nghe tựa đề, chúng ta có thể hiểu rằng khi sử dụng nghi quỹ này để thực hành, chúng ta sẽ được thọ nhận gia trì, và lòng từ bi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Năng lực gia trì và lòng từ bi của ngài vô cùng rộng lớn được ví như kho tàng không gian.
Hai ngàn năm trăm năm trước,
người Thầy vĩ đại của chúng ta, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đản sanh ở Lâm Tỳ Ni. Ngài giác ngộ ở Bồ Đề Đạo Tràng, tại thành Ba-la-nại. Sau đó bắt đầu giảng Pháp ở nhiều nơi, bao gồm Vườn Lộc Uyển, và nhiều nơi khác. Ngài giảng Pháp bằng nhiều cách phù hợp với từng loại chúng sanh, giải thoát họ khỏi phiền não khổ. Lòng từ bi của Ngài vô cùng vĩ đại.
Phật Pháp bắt nguồn từ Ấn Độ.
Đức Phật bắt đầu thuyết Pháp nơi đây. Nhưng sau đó, Phật giáo được truyền từ Ấn Độ đến khắp nơi trên thế giới. Và ở bất cứ nơi nào Phật Pháp được truyền đến, vô số chúng sanh đã đạt được thành tựu nhờ thực hành những giáo Pháp của ngài. Tất cả những điều này có thể xảy ra là nhờ lòng từ bi, và năng lực gia trì của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Khi chúng ta thực hành thiền và trì tụng Nghi Quỹ Phật Thích Ca Mâu Ni,
trước khi đi vào phần thực hành chính, chúng ta phải quy y và phát khởi bồ đề tâm.
Đây là phần đầu tiên trong cuốn nghi quỹ.
Thực hành quy y là cánh cổng
hay cánh cửa đầu tiên khi chúng ta bước vào đạo lộ giải thoát.
Khi quy y, chúng ta phải có tín tâm vào tam bảo.
Ở đây chúng ta nói đến ba cấp độ tín tâm - lòng tin kính ngưỡng, lòng tin tha thiết, và xác tín.
So với tất cả những bậc thầy truyền dạy về con đường giải thoát,
thì Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là người thầy đặc biệt nhất,
bởi những phẩm chất duy nhất chỉ mình ngài có,
và giáo Pháp đặc biệt mà ngài giảng dạy. Giáo pháp đặc biệt mà ngài giảng dạy là gì? Chính là Phật Pháp.
Gốc rễ, hay tinh tuý của những bài giảng của ngài
chính là giáo lý về tánh không và duyên khởi.
Và giáo lý về tánh không và duyên khởi lại dựa trên giáo lý nền tảng
Giáo lý nền tảng này chính là: Tất cả các pháp giả hợp là vô thường, Tất cả các pháp nhiễm ô đều là khổ, Tất cả các pháp đều là không và vô ngã, và Niết bàn là tịch tĩnh, giải thoát. Đây chính là nền tảng của giáo lý về Tánh Không và Duyên Khởi.
Tất cả chúng ta đều sai lầm trong cách nhận thức sự vật hiện tượng,
chấp trước và bám chấp vào sự vật hiện tượng, xem chúng là thật có. Thật ra, tất cả giáo lý của Đức Phật đơn thuần chỉ là phương thuốc giúp loại bỏ những kiểu nhận thức sai lầm, tham đắm và bám chấp này.
Do bởi bám chấp và chấp trước vào thực tại, mà tâm thức của chúng ta bị giới hạn,
rất hạn hẹp. Chúng ta không thể suy nghĩ một cách thông thoáng, và sâu rộng. Nhưng một khi chúng ta thoát khỏi bám chấp và chấp trước vào thực tại, thì tâm của chúng ta sẽ trở nên thư giãn, an lạc và cởi mở hơn. Nó sẽ có khả năng đào sâu hơn. Nguyên nhân thật sự của việc bám chấp rằng mọi thứ là thật có, và chấp trước vào thực tại chính là mặc định rằng tất cả mọi thứ sẽ tồn tại mãi mãi.
Phương pháp đối trị cho kiểu bám chấp vào suy nghĩ rằng tất cả mọi thứ sẽ tồn tại lâu dài,
chính là điều đầu tiên mà Đức Phật dạy.
Ngài dạy rằng, tất cả các pháp là vô thường, là để đối trị với loại chấp trước này của chúng ta.

Giáo lý này được bao hàm trong Nhị Đế
và Tứ Diệu Đế của Đức Phật. Những người tập luyện và thực hành những giáo lý này được gọi là Tăng đoàn.
Khi quy y, chúng ta xem Phật là một y sĩ vô cùng điêu luyện,

Pháp là thuốc,
và Tăng là y tá - người trợ giúp chúng ta uống thuốc và chữa bệnh.
Tiếp theo, chúng ta cần phát khởi bồ đề tâm. Tức khởi lên thái độ, suy nghĩ lớn,
phát khởi ý nguyện độ thoát vô lượng, vô biên, hết thảy tất cả chúng sanh khỏi trạng thái khổ đau, và thiết lập tất cả họ vào trạng thái giác ngộ viên mãn. Đó chính là thái độ bồ đề tâm.
Trong phần huấn luyện bồ đề tâm, chúng ta có thực hành bốn tâm vô lượng,
hay tứ vô lượng tâm. Ở đây chúng ta có thể thực hành bằng cách tụng đọc một cách rõ ràng các câu kệ trong nghi quỹ. đồng thời ngẫm nghĩ, và quán chiếu ngữ nghĩa, trong khi tụng. Chúng ta phải thật sự quán chiếu để thực hành bốn tâm vô lượng.
Nguyện tất cả chúng sinh được hạnh phúc và nguyên nhân của hạnh phúc;
Đây là huấn luyện tâm từ vô lượng.
Nguyện họ thoát khỏi khổ đau và nguyên nhân của khổ đau
Đây là huấn luyện tâm bi vô lượng.
Nguyện họ không bao giờ xa rời hạnh phúc tối thượng vắng bóng khổ đau
Đây là huấn luyện tâm hỷ vô lượng.
Sau đó chúng ta nguyện cho tất cả chúng sanh,
không xem người này là thân thích, người kia là xa lạ, Nguyện họ hoàn toàn không có tâm phân biệt như thế, mà đối với tất cả chúng sanh không sót một ai khởi tâm mong cầu tất cả đều được giải thoát, và có được hạnh phúc, với tâm không phân biệt. Đây là huấn luyện tâm xả vô lượng.
Năng lực của quy y và nuôi dưỡng bồ đề tâm
cho phép chúng ta tích luỹ vô lượng các công đức, tịnh hoá các ác nghiệp,
thậm chí cả những ác nghiệp nặng nề nhất.

Khi chúng ta bắt đầu buổi thực hành với quy y và phát khởi bồ đề tâm,
nếu chúng ta thật sự quán chiếu khi chúng ta trì tụng, điều này sẽ giúp lắng dịu những phiền não thô lậu, loại trừ chúng, và giúp tâm chúng ta trở nên bình lặng và an tĩnh hơn. Nhờ đó, khi đi vào phần chính của thực hành, chúng ta sẽ có thể thực hành với tâm thái nhẹ nhàng, an tĩnh. Đây là lợi ích khi chúng ta bắt đầu thời khoá với thực hành quy y và phát khởi bồ đề tâm.
Rinpoche vẫn thường nhắc rằng, rất nhiều những ác hạnh,
và nghiệp bất thiện của chúng ta được huân tập liên quan đến hai loại đối tượng. Đầu tiên là tam bảo, với những phẩm chất siêu việt. Do bởi không nhận ra những phẩm chất cao quý của tam bảo, hay xem thường bằng cách này hay cách khác, chúng ta tham gia vào rất nhiều nghiệp bất thiện, và tích luỹ bất thiện nghiệp. Đối tượng thứ hai là tất cả chúng sanh. Vì không nhớ nghĩ đến ân đức nhân từ mà tất cả chúng sanh đã dành cho mình, chúng ta cũng tham gia vào rất nhiều bất thiện nghiệp. Do đó, quy y giúp chúng ta tịnh hoá những ác nghiệp mà chúng ta tích luỹ do không nhớ nghĩ đến những phẩm chất siêu việt của tam bảo. Và phát khởi bồ đề tâm cho phép chúng ta tịnh hoá những ác nghiệp mà chúng ta tích luỹ trong hành xử của mình với tất cả chúng sanh. Như vậy, bằng cách này, rất nhiều nghiệp bất thiện được tịnh hoá chỉ bằng cách quy y và phát khởi bồ đề tâm khi chúng ta bắt đầu thời khoá. Thậm chí ngay cả trong phẩm sám hối của Bồ Tát,
khi thực hành pháp sám hối của Bồ Tát,
chúng ta cũng cần nghĩ về những nghiệp bất thiện mà mình đã tích luỹ trước tam bảo, và những nghiệp bất thiện mà mình đã tích luỹ trước tất cả cha mẹ chúng sanh.
Điều này được lặp đi lặp lại trong pháp sám hối của Bồ Tát.
Vì vậy, nhớ nghĩ và thực hành theo cách này thật ra là giáo lý của Kinh giáo.
Ngoài ra, ở đầu thời khoá khi chúng ta quy y và phát khởi bồ đề tâm,
chúng ta không chỉ tịnh hoá những bất thiện nghiệp đã làm, mà đồng thời chúng ta cũng phát nguyện, hứa không tham gia vào những hành vi bất thiện.
Đây là giới, ngăn chúng ta
không tham gia vào những hành vi bất thiện trong tương lai.
Tất cả những hành vi bất thiện trước tam bảo,
và tất cả những hành vi bất thiện trước chúng sanh, cha mẹ hữu tình. Chúng ta cam kết không tham gia vào bất cứ hành vi bất thiện nào trong tương lai, và sẽ chấp dứt dòng tương tục của những hành vi bất thiện ấy.
Tiếp theo, trong thực hành nghi quỹ, chúng ta quán tưởng Đức Phật
trong không gian trước mặt chúng ta. Đây là thực hành quán tưởng.
Trước khi quán tưởng,
đầu tiên chúng ta nên nhớ rằng bản chất của Đức Phật vốn không. Chúng ta nên có sự hiểu biết về bản tánh vốn không, và tướng duyên khởi.
Chúng ta cần có khả năng khởi lên ý niệm như vậy khi thực hành quán tưởng,
giống như hình ảnh phản chiếu trong gương, hay phản chiếu của ánh trăng trên mặt hồ. Đây là những hiện tượng mà bạn có thể thấy được bằng mắt. Bạn thấy chúng, nghĩa là chúng tồn tại. Thế nhưng, nếu bạn thật sự cố gắng tìm kiếm, thì dù có cố gắng đến đâu, bạn cũng chẳng thể tìm được một vật nào. Theo cách đó, chúng thị hiện, nhưng chúng cũng là không.
Để thực hành quán tưởng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, chúng ta cần có một hình ảnh,
hoặc là tranh vẽ, thangka, hay bức hình, và nên là hình ảnh được vẽ đúng, và đẹp bởi một nghệ nhân có tay nghề, và đã được thánh hoá bởi một vị thầy thật thụ. Đây là những điểm lưu ý về hình ảnh của Đức Phật mà bạn muốn sử dụng trong thực hành hằng ngày.
Nếu không, thì nếu bạn có thể có được ảnh chụp
của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở Bồ Đề Đạo Tràng, thành Ba-la-nại, thì thật sự tuyệt vời, vì đó là bức tượng rất cổ của ngài, đã được thánh hoá, và vô cùng quý giá. Thật tuyệt vời nếu chúng ta có thể sử dụng hình ảnh đó để hỗ trợ cho thực hành quán tưởng.
Khi chúng ta quán tưởng Đức Phật Thích Ca,
ngài ngồi xếp bằng với tay phải duỗi ra trong thế ấn xúc địa, tay trái cầm bình bát trong thế ấn thiền định. Đó là cách chúng ta quán tưởng về Phật Thích Ca Mâu Ni.
Khi quán tưởng, chúng ta cũng nên nghĩ rằng
chỉ đơn giản bằng cách nghĩ tưởng về ngài, tất cả tam độc, nguyên nhân của tái sinh trong luân hồi đều sẽ được loại bỏ. Và đơn giản chỉ bằng cách nghĩ tưởng về ngài, cũng đủ khiến tâm đại bi phát khởi, ngăn chúng ta không kẹt nơi niết bàn tịch tĩnh. Chúng ta nên nghĩ đến những lợi ích này khi quán tưởng về Đức Phật.
Khi chúng ta nghĩ về những phẩm chất này của Đức Phật:
đó là chỉ cần nhớ nghĩ, và thấy hình ảnh của Ngài, đã khiến cho những phiền não của chúng ta giảm đi một cách tự nhiên, và xua tan những phiền não thô lậu. Đồng thời, khi nghĩ đến Ngài cùng những phẩm chất cao quý, chúng ta biết không một ai có lòng từ bi như ngài, lòng từ bi vĩ đại khi ngài giúp đỡ và lợi lạc tất cả chúng sanh một cách rộng khắp. Chính nhờ phẩm chất đại từ đại bi nơi ngài, nên chỉ cần nhớ nghĩ đến Đức Phật, cũng đã là nhân duyên để tâm từ bi khai mở trong chúng ta.
Cách thực hành thiền định
dựa vào quán tưởng hình tướng Đức Phật Thích Ca như sau: đầu tiên, chúng ta nhìn vào hình ảnh của ngài, tập làm quen với hình ảnh đó. Sau đó, khi hình ảnh đã dần trở nên rõ ràng hơn trong tâm, chúng ta có thể tập quán tưởng, bằng cách gợi lại hình ảnh trong tâm mà không nhìn vào bức hình. Chúng ta có thể luyện tập từng bước theo cách này.
Khi chúng ta đã có thể quán tưởng, hình dung hình ảnh Đức Phật trước mặt chúng ta,
chúng ta bắt đầu đi vào phần thực hành giúp tích luỹ vô lượng công đức, và loại bỏ vô số nghiệp bất thiện, và tịnh hoá chúng. Chính là thực hành bảy nhánh.
Chúng ta nhớ tưởng đến tất cả những phẩm chất của Đức Phật.
Chúng ta nên suy nghĩ như sau. Chính ngay trong thời kì ngũ trược này, với lòng từ bi to lớn, Đức Phật đã thị hiện để thi triển mười hai công hạnh nhằm điều phục và làm lợi lạc cho chúng sanh. Vì thế nên, đối với chúng ta, những chúng sanh hiện đang sống trong thời kỳ ác trược, với tuổi thọ vào khoảng 100 năm, thì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ bi hơn bất kỳ Vị Phật nào khác. Ngài đã thệ nguyện đặc biệt làm lợi lạc cho chúng sanh thời đại chúng ta. Nếu không có ngài thị hiện, thì thế giới này sẽ chìm trong bóng tối. Chúng ta sẽ thiếu vắng sự dẫn dắt của ngài. Chúng ta sẽ chẳng biết phải làm gì, những điều cần làm và những điều nên tránh. Từ góc nhìn này, chúng ta nhớ nghĩ rằng tất cả những thiện hành mà mọi người thực hiện, tất cả những thực hành từ bỏ những hành vi bất thiện, tiêu cực có thể diễn ra đều duy nhất nhờ vào lòng từ bi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đây là cách chúng ta nhớ nghĩ đến ân đức, phẩm chất, và lòng từ bi của Ngài trong khi thực hành đảnh lễ.
Sau đó, cũng tương tự, chúng ta nhớ nghĩ đến tất cả những thiện hạnh,
tất cả những mặt tích cực, những điểm tốt mà chúng ta có, và thật sự cúng dường tất cả lên Đức Phật.
Kế đến, chúng ta nhớ nghĩ đến tất cả những hành vi tiêu cực
mà chúng ta đã tham gia vào, trong quá khứ cho đến hiện tại, khởi lên một cảm giác ăn năn, hối hận, và sám hối tất cả mọi tội lỗi trước Ngài.
Kế tiếp, chúng ta nhớ nghĩ đến tất cả những điều tốt đẹp, tất cả những thiện hạnh
mà tất cả những hành giả, chúng sanh bình phàm, những bậc thánh giả, và chư Phật đã làm, và khởi tâm hoan hỉ.
Sau đó, chúng ta thỉnh cầu Đức Phật chuyển Pháp luân,
Thỉnh ngài trong các thời, luôn thường giảng giáo Pháp thậm thâm, vi diệu.
Kế đến, chúng ta thỉnh cầu tất cả chư Phật, chư Bồ Tát,
tất cả những bậc thi hành công hạnh giác ngộ tiếp tục trụ thế.
Cuối cùng, chúng ta hồi hướng tất cả công đức mà chúng ta tích luỹ trong ba thời
cho hết thảy chúng sanh để họ giải thoát khỏi trạng thái khổ đau.
Thực hành bảy nhánh cho phép chúng ta loại bỏ tâm ngã mạn, tâm keo kiệt.

Hơn nữa, phần thực hành sám hối cho phép chúng ta tịnh hoá
tất cả những ác nghiệp mà mình đã tích luỹ từ quá khứ cho đến nay.
Tâm đố kỵ của chúng ta cũng được tịnh hoá.

Rồi cả việc chúng ta không có khả năng hồi hướng công đức của mình,
những chấp trước, bám luyến vào công đức cũng được tịnh hoá.
Để dễ hiểu, chúng ta có thể suy nghĩ rằng
tất cả những phiền não căn bản, như tham, sân, si, đang hiện hữu trong tâm chúng ta, đều được tịnh hoá qua thực hành bảy nhánh. Chúng ta nên suy nghĩ như thế.
Những tham luyến, bám chấp mà chúng ta có
liên quan đến thân thể sẽ được tịnh hoá qua thực hành lễ lạy.
Tất cả những tham luyến, bám chấp liên quan đến những vật mà chúng ta có, hay những việc mà chúng ta đã làm,
được tịnh hoá thông qua thực hành cúng dường, và thực hành hồi hướng.
Và tất cả những bất thiện hạnh mà chúng ta đã làm, đã tích luỹ từ sân hận,
được tịnh hoá thông qua thực hành sám hối.
Chúng ta cần xua tan vô minh, mê muội,
để cho phép ánh sáng trí tuệ có thể toả rạng, đúng không? Sau đó, chúng ta có thực hành thỉnh Phật trụ thế, không nhập niết bàn. Không những trụ thế, chúng ta còn thỉnh chư Phật chuyển Pháp luân, các thời thường giảng Pháp. Đây là phương tiện để giúp ánh sáng quang minh của trí tuệ được toả rạng, xua tan đi bóng tối vô minh.
Khi chúng ta nghĩ đến năm loại phiền não, chúng ta cũng có thể nhớ rằng
trong số các phiền não, thường tâm kiêu mạn sẽ được tịnh hoá qua thực hành lễ lạy, tâm đố kỵ sẽ được tịnh hoá qua thực hành tuỳ hỷ, khởi tâm hoan hỉ với những thiện hạnh mà người khác đã làm. Như vậy, thật sự là qua thực hành bảy nhánh, tất cả các loại phiền não căn bản của chúng ta sẽ được tịnh hoá.
Tiếp theo, với lòng sùng mộ, và tín tâm, chúng ta khẩn nguyện đến Đức Phật,
sau đó trì tụng danh hiệu của Ngài, chính là minh chú Hồng Danh của Đức Phật.
Khi kết thúc trì tụng minh chú.
Thường chúng ta có thể tụng một vòng tràng hạt chẳng hạn. Khi kết thúc, chúng ta quán tưởng ánh sáng phóng ra từ thân Phật chạm đến chúng ta, và tất cả chúng sanh, xua tan tất cả bất thiện nghiệp, cho phép tất cả những phẩm chất tốt đẹp của chúng ta được hiển lộ. Đến đây, chúng ta có thể dành một khoảng thời gian ngắn để thực hành thiền định, và thiền tuệ.
Lúc này, chúng ta an trụ trong trạng thái vắng bóng mọi niệm tưởng,
tất cả mọi ý niệm, dù là niệm tốt, niệm tích cực, hay niệm tiêu cực gắn liền với hành vi tiêu cực, v.v.. Chỉ đơn thuần, chúng ta có thể nghĩ rằng tất cả các phẩm chất tốt đẹp của chúng ta đã hoàn toàn viên mãn, tất cả mọi tiêu cực đã hoàn toàn thanh tịnh. Sau đó chúng ta an trụ nơi đó, không nắm giữ bất cứ thứ gì, dù tích cực hay tiêu cực.
Nếu luyện tập thiền định qua thực hành quán tưởng Đức Phật,
thì đầu tiên chúng ta chỉ cần chú trọng vào việc luyện tập để gợi nhớ toàn bộ hình ảnh của Đức Phật.
Sau khi đã làm được điều này.
Khi chúng ta đã có thể gợi nhớ một cách rõ ràng trong tâm trí toàn bộ hình ảnh quán tưởng của Đức Phật, chúng ta có thể dành một chút thời gian quan sát những phần khác nhau trên thân Phật, tập trung tâm trí vào từng phần, như tay ngài, gương mặt ngài, v.v...
Nếu muốn đạt được ổn định thiền,
chúng ta có thể luyện tập bằng nhiều cách để cải thiện dần mức độ ổn định thiền. Một cách mà chúng ta có thể làm là thỉnh thoảng, chúng ta có thể quán tưởng Đức Phật với kích thước rất rất nhỏ, chỉ bằng kích thước của một kí tự chữ cái. Và thỉnh thoảng chúng ta có thể quán tưởng Đức Phật với kích thước cực kỳ lớn, bằng kích thước của núi Tu Di. Thỉnh thoảng, chúng ta có thể quán tưởng từ một thân Phật hoá thành trăm ngàn thân Phật. Hay thỉnh thoảng chúng ta quán tưởng trăm ngàn thân Phật đó nhập thành một thân Phật. Khi tâp luyện quán tưởng theo những cách này, chúng sẽ giúp chúng ta cải thiện dần năng lực quán tưởng và đạt được ổn định thiền.
Và một khi chúng ta đã đạt được ổn định thiền ở một mức độ nào đó rồi
qua thực hành quán tưởng, chúng ta có thể tiếp tục luyện tập thực hành thiền tuệ, tức an trụ trong trạng thái chân như, trạng thái mà tâm chúng ta vắng bặt tất cả mọi bám chấp vào khái niệm.
Và nếu chúng ta đã có cơ hội nhận trực chỉ từ một vị thầy với đầy đủ phẩm chất,
một vị đạo sư chân chính với những chứng ngộ tối thượng, thì từ trực chỉ đó, chúng ta có thể an trụ trong trạng thái trực nhận mà chúng ta đã từng được trực chỉ. Nếu chúng ta thực hành như thế, thì thật vô cùng thù thắng.
Về thời lượng, thì trong thời thiền của chúng ta,
chúng ta có thể thực hành phương pháp thiền này trong khoảng 5 phút, sau đó tăng dần lên thành 10, 15, 30 phút, v.v... Chúng ta tăng dần thời gian để giúp cho thực hành thiền của chúng ta ngày một tiến xa hơn.
Khi kết thúc phần hành thiền,
chúng ta hồi hướng công đức mà chúng ta đã tích luỹ trong suốt thời khoá thực hành.
Bằng cách nhớ nghĩ đến tất cả chư Phật quá khứ,
tất cả chư Bồ Tát, đến tất cả những phương tiện mà các ngài đã làm để lợi lạc tất cả chúng sanh qua thực hành, phát nguyện, thực thi công hạnh giác ngộ, qua năng lực trí tuệ, từ bi và sức mạnh. Chúng ta cũng suy nghĩ rằng, nguyện con và tất cả chúng sanh cũng có khả năng lợi lạc cho người khác như cách mà các ngài đã làm.
Tóm lại, chúng ta nên nghĩ rằng, nguyện con và tất cả chúng sanh không trừ một ai
sẽ giải thoát khỏi mọi phiền não, và đạt được trạng thái giác ngộ viên mãn.
Đây chỉ là phần giải thích rất ngắn gọn
cách thực hành theo Kho Tàng Ân Phước-Nghi Quỹ Phật Thích Ca Mâu Ni.
Cách tôi giải thích về quán tưởng thật ra
là chỉ từ phương diện của người mới thực hành. Trường hợp khi đã thành thục hơn, chúng ta có thể mở rộng phần quán tưởng. Chẳng hạn, không chỉ quán tưởng Đức Phật, chúng ta có thể quán tưởng thêm chư tuỳ tùng, như Tám Đại Bồ Tát, mười sáu vị A-la-hán, v.v.. Như vậy, khi đã phát triển được năng lực quán tưởng, và trãi qua một quá trình thực hành, chúng ta có thể thực hiện theo cách này, mở rộng phần quán tưởng.
Tôi rất vui, và muốn tỏ lòng cám ơn các bạn
vì đã cho tôi cơ hội để chia sẻ một chút về thực hành Phật Pháp.
Giờ chúng ta hãy cùng nhau hồi hướng công đức.
sönam diyi thamché sikpa nyi thopné nyepai dranam phamjé né kyega nachi balap trukpa yi sipai tsolé drowa drölwar shok
video
play-rounded-outline
44:53
 
Languagevi_VN
Mọi người hãy hướng tâm mình về quả giác ngộ và lắng nghe giáo Pháp.
Chủ đề hôm nay của chúng ta là cách sử dụng nghi quỹ Phật Thích Ca Mâu Ni
làm phương tiện để thực hành định, tuệ.
Tựa đề của thực hành này là Kho Tàng Ân Phước-Nghi Quỹ Phật Thích Ca Mâu Ni.
Khi nghe tựa đề, chúng ta có thể hiểu rằng khi sử dụng nghi quỹ này để thực hành, chúng ta sẽ được thọ nhận gia trì, và lòng từ bi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Năng lực gia trì và lòng từ bi của ngài vô cùng rộng lớn được ví như kho tàng không gian.
Hai ngàn năm trăm năm trước,
người Thầy vĩ đại của chúng ta, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đản sanh ở Lâm Tỳ Ni. Ngài giác ngộ ở Bồ Đề Đạo Tràng, tại thành Ba-la-nại. Sau đó bắt đầu giảng Pháp ở nhiều nơi, bao gồm Vườn Lộc Uyển, và nhiều nơi khác. Ngài giảng Pháp bằng nhiều cách phù hợp với từng loại chúng sanh, giải thoát họ khỏi phiền não khổ. Lòng từ bi của Ngài vô cùng vĩ đại.
Phật Pháp bắt nguồn từ Ấn Độ.
Đức Phật bắt đầu thuyết Pháp nơi đây. Nhưng sau đó, Phật giáo được truyền từ Ấn Độ đến khắp nơi trên thế giới. Và ở bất cứ nơi nào Phật Pháp được truyền đến, vô số chúng sanh đã đạt được thành tựu nhờ thực hành những giáo Pháp của ngài. Tất cả những điều này có thể xảy ra là nhờ lòng từ bi, và năng lực gia trì của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Khi chúng ta thực hành thiền và trì tụng Nghi Quỹ Phật Thích Ca Mâu Ni,
trước khi đi vào phần thực hành chính, chúng ta phải quy y và phát khởi bồ đề tâm.
Đây là phần đầu tiên trong cuốn nghi quỹ.
Thực hành quy y là cánh cổng
hay cánh cửa đầu tiên khi chúng ta bước vào đạo lộ giải thoát.
Khi quy y, chúng ta phải có tín tâm vào tam bảo.
Ở đây chúng ta nói đến ba cấp độ tín tâm - lòng tin kính ngưỡng, lòng tin tha thiết, và xác tín.
So với tất cả những bậc thầy truyền dạy về con đường giải thoát,
thì Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là người thầy đặc biệt nhất,
bởi những phẩm chất duy nhất chỉ mình ngài có,
và giáo Pháp đặc biệt mà ngài giảng dạy. Giáo pháp đặc biệt mà ngài giảng dạy là gì? Chính là Phật Pháp.
Gốc rễ, hay tinh tuý của những bài giảng của ngài
chính là giáo lý về tánh không và duyên khởi.
Và giáo lý về tánh không và duyên khởi lại dựa trên giáo lý nền tảng
Giáo lý nền tảng này chính là: Tất cả các pháp giả hợp là vô thường, Tất cả các pháp nhiễm ô đều là khổ, Tất cả các pháp đều là không và vô ngã, và Niết bàn là tịch tĩnh, giải thoát. Đây chính là nền tảng của giáo lý về Tánh Không và Duyên Khởi.
Tất cả chúng ta đều sai lầm trong cách nhận thức sự vật hiện tượng,
chấp trước và bám chấp vào sự vật hiện tượng, xem chúng là thật có. Thật ra, tất cả giáo lý của Đức Phật đơn thuần chỉ là phương thuốc giúp loại bỏ những kiểu nhận thức sai lầm, tham đắm và bám chấp này.
Do bởi bám chấp và chấp trước vào thực tại, mà tâm thức của chúng ta bị giới hạn,
rất hạn hẹp. Chúng ta không thể suy nghĩ một cách thông thoáng, và sâu rộng. Nhưng một khi chúng ta thoát khỏi bám chấp và chấp trước vào thực tại, thì tâm của chúng ta sẽ trở nên thư giãn, an lạc và cởi mở hơn. Nó sẽ có khả năng đào sâu hơn. Nguyên nhân thật sự của việc bám chấp rằng mọi thứ là thật có, và chấp trước vào thực tại chính là mặc định rằng tất cả mọi thứ sẽ tồn tại mãi mãi.
Phương pháp đối trị cho kiểu bám chấp vào suy nghĩ rằng tất cả mọi thứ sẽ tồn tại lâu dài,
chính là điều đầu tiên mà Đức Phật dạy.
Ngài dạy rằng, tất cả các pháp là vô thường, là để đối trị với loại chấp trước này của chúng ta.

Giáo lý này được bao hàm trong Nhị Đế
và Tứ Diệu Đế của Đức Phật. Những người tập luyện và thực hành những giáo lý này được gọi là Tăng đoàn.
Khi quy y, chúng ta xem Phật là một y sĩ vô cùng điêu luyện,

Pháp là thuốc,
và Tăng là y tá - người trợ giúp chúng ta uống thuốc và chữa bệnh.
Tiếp theo, chúng ta cần phát khởi bồ đề tâm. Tức khởi lên thái độ, suy nghĩ lớn,
phát khởi ý nguyện độ thoát vô lượng, vô biên, hết thảy tất cả chúng sanh khỏi trạng thái khổ đau, và thiết lập tất cả họ vào trạng thái giác ngộ viên mãn. Đó chính là thái độ bồ đề tâm.
Trong phần huấn luyện bồ đề tâm, chúng ta có thực hành bốn tâm vô lượng,
hay tứ vô lượng tâm. Ở đây chúng ta có thể thực hành bằng cách tụng đọc một cách rõ ràng các câu kệ trong nghi quỹ. đồng thời ngẫm nghĩ, và quán chiếu ngữ nghĩa, trong khi tụng. Chúng ta phải thật sự quán chiếu để thực hành bốn tâm vô lượng.
Nguyện tất cả chúng sinh được hạnh phúc và nguyên nhân của hạnh phúc;
Đây là huấn luyện tâm từ vô lượng.
Nguyện họ thoát khỏi khổ đau và nguyên nhân của khổ đau
Đây là huấn luyện tâm bi vô lượng.
Nguyện họ không bao giờ xa rời hạnh phúc tối thượng vắng bóng khổ đau
Đây là huấn luyện tâm hỷ vô lượng.
Sau đó chúng ta nguyện cho tất cả chúng sanh,
không xem người này là thân thích, người kia là xa lạ, Nguyện họ hoàn toàn không có tâm phân biệt như thế, mà đối với tất cả chúng sanh không sót một ai khởi tâm mong cầu tất cả đều được giải thoát, và có được hạnh phúc, với tâm không phân biệt. Đây là huấn luyện tâm xả vô lượng.
Năng lực của quy y và nuôi dưỡng bồ đề tâm
cho phép chúng ta tích luỹ vô lượng các công đức, tịnh hoá các ác nghiệp,
thậm chí cả những ác nghiệp nặng nề nhất.

Khi chúng ta bắt đầu buổi thực hành với quy y và phát khởi bồ đề tâm,
nếu chúng ta thật sự quán chiếu khi chúng ta trì tụng, điều này sẽ giúp lắng dịu những phiền não thô lậu, loại trừ chúng, và giúp tâm chúng ta trở nên bình lặng và an tĩnh hơn. Nhờ đó, khi đi vào phần chính của thực hành, chúng ta sẽ có thể thực hành với tâm thái nhẹ nhàng, an tĩnh. Đây là lợi ích khi chúng ta bắt đầu thời khoá với thực hành quy y và phát khởi bồ đề tâm.
Rinpoche vẫn thường nhắc rằng, rất nhiều những ác hạnh,
và nghiệp bất thiện của chúng ta được huân tập liên quan đến hai loại đối tượng. Đầu tiên là tam bảo, với những phẩm chất siêu việt. Do bởi không nhận ra những phẩm chất cao quý của tam bảo, hay xem thường bằng cách này hay cách khác, chúng ta tham gia vào rất nhiều nghiệp bất thiện, và tích luỹ bất thiện nghiệp. Đối tượng thứ hai là tất cả chúng sanh. Vì không nhớ nghĩ đến ân đức nhân từ mà tất cả chúng sanh đã dành cho mình, chúng ta cũng tham gia vào rất nhiều bất thiện nghiệp. Do đó, quy y giúp chúng ta tịnh hoá những ác nghiệp mà chúng ta tích luỹ do không nhớ nghĩ đến những phẩm chất siêu việt của tam bảo. Và phát khởi bồ đề tâm cho phép chúng ta tịnh hoá những ác nghiệp mà chúng ta tích luỹ trong hành xử của mình với tất cả chúng sanh. Như vậy, bằng cách này, rất nhiều nghiệp bất thiện được tịnh hoá chỉ bằng cách quy y và phát khởi bồ đề tâm khi chúng ta bắt đầu thời khoá. Thậm chí ngay cả trong phẩm sám hối của Bồ Tát,
khi thực hành pháp sám hối của Bồ Tát,
chúng ta cũng cần nghĩ về những nghiệp bất thiện mà mình đã tích luỹ trước tam bảo, và những nghiệp bất thiện mà mình đã tích luỹ trước tất cả cha mẹ chúng sanh.
Điều này được lặp đi lặp lại trong pháp sám hối của Bồ Tát.
Vì vậy, nhớ nghĩ và thực hành theo cách này thật ra là giáo lý của Kinh giáo.
Ngoài ra, ở đầu thời khoá khi chúng ta quy y và phát khởi bồ đề tâm,
chúng ta không chỉ tịnh hoá những bất thiện nghiệp đã làm, mà đồng thời chúng ta cũng phát nguyện, hứa không tham gia vào những hành vi bất thiện.
Đây là giới, ngăn chúng ta
không tham gia vào những hành vi bất thiện trong tương lai.
Tất cả những hành vi bất thiện trước tam bảo,
và tất cả những hành vi bất thiện trước chúng sanh, cha mẹ hữu tình. Chúng ta cam kết không tham gia vào bất cứ hành vi bất thiện nào trong tương lai, và sẽ chấp dứt dòng tương tục của những hành vi bất thiện ấy.
Tiếp theo, trong thực hành nghi quỹ, chúng ta quán tưởng Đức Phật
trong không gian trước mặt chúng ta. Đây là thực hành quán tưởng.
Trước khi quán tưởng,
đầu tiên chúng ta nên nhớ rằng bản chất của Đức Phật vốn không. Chúng ta nên có sự hiểu biết về bản tánh vốn không, và tướng duyên khởi.
Chúng ta cần có khả năng khởi lên ý niệm như vậy khi thực hành quán tưởng,
giống như hình ảnh phản chiếu trong gương, hay phản chiếu của ánh trăng trên mặt hồ. Đây là những hiện tượng mà bạn có thể thấy được bằng mắt. Bạn thấy chúng, nghĩa là chúng tồn tại. Thế nhưng, nếu bạn thật sự cố gắng tìm kiếm, thì dù có cố gắng đến đâu, bạn cũng chẳng thể tìm được một vật nào. Theo cách đó, chúng thị hiện, nhưng chúng cũng là không.
Để thực hành quán tưởng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, chúng ta cần có một hình ảnh,
hoặc là tranh vẽ, thangka, hay bức hình, và nên là hình ảnh được vẽ đúng, và đẹp bởi một nghệ nhân có tay nghề, và đã được thánh hoá bởi một vị thầy thật thụ. Đây là những điểm lưu ý về hình ảnh của Đức Phật mà bạn muốn sử dụng trong thực hành hằng ngày.
Nếu không, thì nếu bạn có thể có được ảnh chụp
của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở Bồ Đề Đạo Tràng, thành Ba-la-nại, thì thật sự tuyệt vời, vì đó là bức tượng rất cổ của ngài, đã được thánh hoá, và vô cùng quý giá. Thật tuyệt vời nếu chúng ta có thể sử dụng hình ảnh đó để hỗ trợ cho thực hành quán tưởng.
Khi chúng ta quán tưởng Đức Phật Thích Ca,
ngài ngồi xếp bằng với tay phải duỗi ra trong thế ấn xúc địa, tay trái cầm bình bát trong thế ấn thiền định. Đó là cách chúng ta quán tưởng về Phật Thích Ca Mâu Ni.
Khi quán tưởng, chúng ta cũng nên nghĩ rằng
chỉ đơn giản bằng cách nghĩ tưởng về ngài, tất cả tam độc, nguyên nhân của tái sinh trong luân hồi đều sẽ được loại bỏ. Và đơn giản chỉ bằng cách nghĩ tưởng về ngài, cũng đủ khiến tâm đại bi phát khởi, ngăn chúng ta không kẹt nơi niết bàn tịch tĩnh. Chúng ta nên nghĩ đến những lợi ích này khi quán tưởng về Đức Phật.
Khi chúng ta nghĩ về những phẩm chất này của Đức Phật:
đó là chỉ cần nhớ nghĩ, và thấy hình ảnh của Ngài, đã khiến cho những phiền não của chúng ta giảm đi một cách tự nhiên, và xua tan những phiền não thô lậu. Đồng thời, khi nghĩ đến Ngài cùng những phẩm chất cao quý, chúng ta biết không một ai có lòng từ bi như ngài, lòng từ bi vĩ đại khi ngài giúp đỡ và lợi lạc tất cả chúng sanh một cách rộng khắp. Chính nhờ phẩm chất đại từ đại bi nơi ngài, nên chỉ cần nhớ nghĩ đến Đức Phật, cũng đã là nhân duyên để tâm từ bi khai mở trong chúng ta.
Cách thực hành thiền định
dựa vào quán tưởng hình tướng Đức Phật Thích Ca như sau: đầu tiên, chúng ta nhìn vào hình ảnh của ngài, tập làm quen với hình ảnh đó. Sau đó, khi hình ảnh đã dần trở nên rõ ràng hơn trong tâm, chúng ta có thể tập quán tưởng, bằng cách gợi lại hình ảnh trong tâm mà không nhìn vào bức hình. Chúng ta có thể luyện tập từng bước theo cách này.
Khi chúng ta đã có thể quán tưởng, hình dung hình ảnh Đức Phật trước mặt chúng ta,
chúng ta bắt đầu đi vào phần thực hành giúp tích luỹ vô lượng công đức, và loại bỏ vô số nghiệp bất thiện, và tịnh hoá chúng. Chính là thực hành bảy nhánh.
Chúng ta nhớ tưởng đến tất cả những phẩm chất của Đức Phật.
Chúng ta nên suy nghĩ như sau. Chính ngay trong thời kì ngũ trược này, với lòng từ bi to lớn, Đức Phật đã thị hiện để thi triển mười hai công hạnh nhằm điều phục và làm lợi lạc cho chúng sanh. Vì thế nên, đối với chúng ta, những chúng sanh hiện đang sống trong thời kỳ ác trược, với tuổi thọ vào khoảng 100 năm, thì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ bi hơn bất kỳ Vị Phật nào khác. Ngài đã thệ nguyện đặc biệt làm lợi lạc cho chúng sanh thời đại chúng ta. Nếu không có ngài thị hiện, thì thế giới này sẽ chìm trong bóng tối. Chúng ta sẽ thiếu vắng sự dẫn dắt của ngài. Chúng ta sẽ chẳng biết phải làm gì, những điều cần làm và những điều nên tránh. Từ góc nhìn này, chúng ta nhớ nghĩ rằng tất cả những thiện hành mà mọi người thực hiện, tất cả những thực hành từ bỏ những hành vi bất thiện, tiêu cực có thể diễn ra đều duy nhất nhờ vào lòng từ bi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đây là cách chúng ta nhớ nghĩ đến ân đức, phẩm chất, và lòng từ bi của Ngài trong khi thực hành đảnh lễ.
Sau đó, cũng tương tự, chúng ta nhớ nghĩ đến tất cả những thiện hạnh,
tất cả những mặt tích cực, những điểm tốt mà chúng ta có, và thật sự cúng dường tất cả lên Đức Phật.
Kế đến, chúng ta nhớ nghĩ đến tất cả những hành vi tiêu cực
mà chúng ta đã tham gia vào, trong quá khứ cho đến hiện tại, khởi lên một cảm giác ăn năn, hối hận, và sám hối tất cả mọi tội lỗi trước Ngài.
Kế tiếp, chúng ta nhớ nghĩ đến tất cả những điều tốt đẹp, tất cả những thiện hạnh
mà tất cả những hành giả, chúng sanh bình phàm, những bậc thánh giả, và chư Phật đã làm, và khởi tâm hoan hỉ.
Sau đó, chúng ta thỉnh cầu Đức Phật chuyển Pháp luân,
Thỉnh ngài trong các thời, luôn thường giảng giáo Pháp thậm thâm, vi diệu.
Kế đến, chúng ta thỉnh cầu tất cả chư Phật, chư Bồ Tát,
tất cả những bậc thi hành công hạnh giác ngộ tiếp tục trụ thế.
Cuối cùng, chúng ta hồi hướng tất cả công đức mà chúng ta tích luỹ trong ba thời
cho hết thảy chúng sanh để họ giải thoát khỏi trạng thái khổ đau.
Thực hành bảy nhánh cho phép chúng ta loại bỏ tâm ngã mạn, tâm keo kiệt.

Hơn nữa, phần thực hành sám hối cho phép chúng ta tịnh hoá
tất cả những ác nghiệp mà mình đã tích luỹ từ quá khứ cho đến nay.
Tâm đố kỵ của chúng ta cũng được tịnh hoá.

Rồi cả việc chúng ta không có khả năng hồi hướng công đức của mình,
những chấp trước, bám luyến vào công đức cũng được tịnh hoá.
Để dễ hiểu, chúng ta có thể suy nghĩ rằng
tất cả những phiền não căn bản, như tham, sân, si, đang hiện hữu trong tâm chúng ta, đều được tịnh hoá qua thực hành bảy nhánh. Chúng ta nên suy nghĩ như thế.
Những tham luyến, bám chấp mà chúng ta có
liên quan đến thân thể sẽ được tịnh hoá qua thực hành lễ lạy.
Tất cả những tham luyến, bám chấp liên quan đến những vật mà chúng ta có, hay những việc mà chúng ta đã làm,
được tịnh hoá thông qua thực hành cúng dường, và thực hành hồi hướng.
Và tất cả những bất thiện hạnh mà chúng ta đã làm, đã tích luỹ từ sân hận,
được tịnh hoá thông qua thực hành sám hối.
Chúng ta cần xua tan vô minh, mê muội,
để cho phép ánh sáng trí tuệ có thể toả rạng, đúng không? Sau đó, chúng ta có thực hành thỉnh Phật trụ thế, không nhập niết bàn. Không những trụ thế, chúng ta còn thỉnh chư Phật chuyển Pháp luân, các thời thường giảng Pháp. Đây là phương tiện để giúp ánh sáng quang minh của trí tuệ được toả rạng, xua tan đi bóng tối vô minh.
Khi chúng ta nghĩ đến năm loại phiền não, chúng ta cũng có thể nhớ rằng
trong số các phiền não, thường tâm kiêu mạn sẽ được tịnh hoá qua thực hành lễ lạy, tâm đố kỵ sẽ được tịnh hoá qua thực hành tuỳ hỷ, khởi tâm hoan hỉ với những thiện hạnh mà người khác đã làm. Như vậy, thật sự là qua thực hành bảy nhánh, tất cả các loại phiền não căn bản của chúng ta sẽ được tịnh hoá.
Tiếp theo, với lòng sùng mộ, và tín tâm, chúng ta khẩn nguyện đến Đức Phật,
sau đó trì tụng danh hiệu của Ngài, chính là minh chú Hồng Danh của Đức Phật.
Khi kết thúc trì tụng minh chú.
Thường chúng ta có thể tụng một vòng tràng hạt chẳng hạn. Khi kết thúc, chúng ta quán tưởng ánh sáng phóng ra từ thân Phật chạm đến chúng ta, và tất cả chúng sanh, xua tan tất cả bất thiện nghiệp, cho phép tất cả những phẩm chất tốt đẹp của chúng ta được hiển lộ. Đến đây, chúng ta có thể dành một khoảng thời gian ngắn để thực hành thiền định, và thiền tuệ.
Lúc này, chúng ta an trụ trong trạng thái vắng bóng mọi niệm tưởng,
tất cả mọi ý niệm, dù là niệm tốt, niệm tích cực, hay niệm tiêu cực gắn liền với hành vi tiêu cực, v.v.. Chỉ đơn thuần, chúng ta có thể nghĩ rằng tất cả các phẩm chất tốt đẹp của chúng ta đã hoàn toàn viên mãn, tất cả mọi tiêu cực đã hoàn toàn thanh tịnh. Sau đó chúng ta an trụ nơi đó, không nắm giữ bất cứ thứ gì, dù tích cực hay tiêu cực.
Nếu luyện tập thiền định qua thực hành quán tưởng Đức Phật,
thì đầu tiên chúng ta chỉ cần chú trọng vào việc luyện tập để gợi nhớ toàn bộ hình ảnh của Đức Phật.
Sau khi đã làm được điều này.
Khi chúng ta đã có thể gợi nhớ một cách rõ ràng trong tâm trí toàn bộ hình ảnh quán tưởng của Đức Phật, chúng ta có thể dành một chút thời gian quan sát những phần khác nhau trên thân Phật, tập trung tâm trí vào từng phần, như tay ngài, gương mặt ngài, v.v...
Nếu muốn đạt được ổn định thiền,
chúng ta có thể luyện tập bằng nhiều cách để cải thiện dần mức độ ổn định thiền. Một cách mà chúng ta có thể làm là thỉnh thoảng, chúng ta có thể quán tưởng Đức Phật với kích thước rất rất nhỏ, chỉ bằng kích thước của một kí tự chữ cái. Và thỉnh thoảng chúng ta có thể quán tưởng Đức Phật với kích thước cực kỳ lớn, bằng kích thước của núi Tu Di. Thỉnh thoảng, chúng ta có thể quán tưởng từ một thân Phật hoá thành trăm ngàn thân Phật. Hay thỉnh thoảng chúng ta quán tưởng trăm ngàn thân Phật đó nhập thành một thân Phật. Khi tâp luyện quán tưởng theo những cách này, chúng sẽ giúp chúng ta cải thiện dần năng lực quán tưởng và đạt được ổn định thiền.
Và một khi chúng ta đã đạt được ổn định thiền ở một mức độ nào đó rồi
qua thực hành quán tưởng, chúng ta có thể tiếp tục luyện tập thực hành thiền tuệ, tức an trụ trong trạng thái chân như, trạng thái mà tâm chúng ta vắng bặt tất cả mọi bám chấp vào khái niệm.
Và nếu chúng ta đã có cơ hội nhận trực chỉ từ một vị thầy với đầy đủ phẩm chất,
một vị đạo sư chân chính với những chứng ngộ tối thượng, thì từ trực chỉ đó, chúng ta có thể an trụ trong trạng thái trực nhận mà chúng ta đã từng được trực chỉ. Nếu chúng ta thực hành như thế, thì thật vô cùng thù thắng.
Về thời lượng, thì trong thời thiền của chúng ta,
chúng ta có thể thực hành phương pháp thiền này trong khoảng 5 phút, sau đó tăng dần lên thành 10, 15, 30 phút, v.v... Chúng ta tăng dần thời gian để giúp cho thực hành thiền của chúng ta ngày một tiến xa hơn.
Khi kết thúc phần hành thiền,
chúng ta hồi hướng công đức mà chúng ta đã tích luỹ trong suốt thời khoá thực hành.
Bằng cách nhớ nghĩ đến tất cả chư Phật quá khứ,
tất cả chư Bồ Tát, đến tất cả những phương tiện mà các ngài đã làm để lợi lạc tất cả chúng sanh qua thực hành, phát nguyện, thực thi công hạnh giác ngộ, qua năng lực trí tuệ, từ bi và sức mạnh. Chúng ta cũng suy nghĩ rằng, nguyện con và tất cả chúng sanh cũng có khả năng lợi lạc cho người khác như cách mà các ngài đã làm.
Tóm lại, chúng ta nên nghĩ rằng, nguyện con và tất cả chúng sanh không trừ một ai
sẽ giải thoát khỏi mọi phiền não, và đạt được trạng thái giác ngộ viên mãn.
Đây chỉ là phần giải thích rất ngắn gọn
cách thực hành theo Kho Tàng Ân Phước-Nghi Quỹ Phật Thích Ca Mâu Ni.
Cách tôi giải thích về quán tưởng thật ra
là chỉ từ phương diện của người mới thực hành. Trường hợp khi đã thành thục hơn, chúng ta có thể mở rộng phần quán tưởng. Chẳng hạn, không chỉ quán tưởng Đức Phật, chúng ta có thể quán tưởng thêm chư tuỳ tùng, như Tám Đại Bồ Tát, mười sáu vị A-la-hán, v.v.. Như vậy, khi đã phát triển được năng lực quán tưởng, và trãi qua một quá trình thực hành, chúng ta có thể thực hiện theo cách này, mở rộng phần quán tưởng.
Tôi rất vui, và muốn tỏ lòng cám ơn các bạn
vì đã cho tôi cơ hội để chia sẻ một chút về thực hành Phật Pháp.
Giờ chúng ta hãy cùng nhau hồi hướng công đức.
sönam diyi thamché sikpa nyi thopné nyepai dranam phamjé né kyega nachi balap trukpa yi sipai tsolé drowa drölwar shok
Băng hình
Âm thanh
video
play-rounded-outline
24:34
 
Languagevi_VN
Mọi người hãy hướng tâm mình về quả giác ngộ và lắng nghe giáo Pháp.
Chủ đề hôm nay của chúng ta là cách sử dụng nghi quỹ Phật Thích Ca Mâu Ni
làm phương tiện để thực hành định, tuệ.
Tựa đề của thực hành này là Kho Tàng Ân Phước-Nghi Quỹ Phật Thích Ca Mâu Ni.
Khi nghe tựa đề, chúng ta có thể hiểu rằng khi sử dụng nghi quỹ này để thực hành, chúng ta sẽ được thọ nhận gia trì, và lòng từ bi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Năng lực gia trì và lòng từ bi của ngài vô cùng rộng lớn được ví như kho tàng không gian.
Hai ngàn năm trăm năm trước,
người Thầy vĩ đại của chúng ta, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đản sanh ở Lâm Tỳ Ni. Ngài giác ngộ ở Bồ Đề Đạo Tràng, tại thành Ba-la-nại. Sau đó bắt đầu giảng Pháp ở nhiều nơi, bao gồm Vườn Lộc Uyển, và nhiều nơi khác. Ngài giảng Pháp bằng nhiều cách phù hợp với từng loại chúng sanh, giải thoát họ khỏi phiền não khổ. Lòng từ bi của Ngài vô cùng vĩ đại. Phật Pháp bắt nguồn từ Ấn Độ. Đức Phật bắt đầu thuyết Pháp nơi đây. Nhưng sau đó, Phật giáo được truyền từ Ấn Độ đến khắp nơi trên thế giới. Và ở bất cứ nơi nào Phật Pháp được truyền đến, vô số chúng sanh đã đạt được thành tựu nhờ thực hành những giáo Pháp của ngài. Tất cả những điều này có thể xảy ra là nhờ lòng từ bi, và năng lực gia trì của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Khi chúng ta thực hành thiền và trì tụng Nghi Quỹ Phật Thích Ca Mâu Ni,
trước khi đi vào phần thực hành chính, chúng ta phải quy y và phát khởi bồ đề tâm.
Đây là phần đầu tiên trong cuốn nghi quỹ.
Thực hành quy y là cánh cổng
hay cánh cửa đầu tiên khi chúng ta bước vào đạo lộ giải thoát. Khi quy y, chúng ta phải có tín tâm vào tam bảo. Ở đây chúng ta nói đến ba cấp độ tín tâm - lòng tin kính ngưỡng, lòng tin tha thiết, và xác tín.
So với tất cả những bậc thầy truyền dạy về con đường giải thoát,
thì Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là người thầy đặc biệt nhất,
bởi những phẩm chất duy nhất chỉ mình ngài có,
và giáo Pháp đặc biệt mà ngài giảng dạy. Giáo pháp đặc biệt mà ngài giảng dạy là gì? Chính là Phật Pháp. Gốc rễ, hay tinh tuý của những bài giảng của ngài chính là giáo lý về tánh không và duyên khởi.
Và giáo lý về tánh không và duyên khởi lại dựa trên giáo lý nền tảng
Giáo lý nền tảng này chính là: Tất cả các pháp giả hợp là vô thường, Tất cả các pháp nhiễm ô đều là khổ, Tất cả các pháp đều là không và vô ngã, và Niết bàn là tịch tịnh, giải thoát. Đây chính là nền tảng của giáo lý về Tánh Không và Duyên Khởi.
Tất cả chúng ta đều sai lầm trong cách nhận thức sự vật hiện tượng,
chấp trước và bám chấp vào sự vật hiện tượng, xem chúng là thật có. Thật ra, tất cả giáo lý của Đức Phật đơn thuần chỉ là phương thuốc giúp loại bỏ những kiểu nhận thức sai lầm, tham đắm và bám chấp này. Do bởi bám chấp và chấp trước vào thực tại, mà tâm thức của chúng ta bị giới hạn, rất hạn hẹp. Chúng ta không thể suy nghĩ một cách thông thoáng, và sâu rộng. Nhưng một khi chúng ta thoát khỏi bám chấp và chấp trước vào thực tại, thì tâm của chúng ta sẽ trở nên thư giãn, an lạc và cởi mở hơn. Nó sẽ có khả năng đào sâu hơn. Nguyên nhân thật sự của việc bám chấp rằng mọi thứ là thật có, và chấp trước vào thực tại chính là mặc định rằng tất cả mọi thứ sẽ tồn tại mãi mãi. Phương pháp đối trị cho kiểu bám chấp vào suy nghĩ rằng tất cả mọi thứ sẽ tồn tại lâu dài, chính là điều đầu tiên mà Đức Phật dạy.
Ngài dạy rằng, tất cả các pháp là vô thường, là để đối trị với loại chấp trước này của chúng ta.

Giáo lý này được bao hàm trong Nhị Đế
và Tứ Diệu Đế của Đức Phật. Những người tập luyện và thực hành những giáo lý này được gọi là Tăng đoàn.
Khi quy y, chúng ta xem Phật là một y sĩ vô cùng điêu luyện,
Pháp là thuốc, và Tăng là y tá - người trợ giúp chúng ta uống thuốc và chữa bệnh. Tiếp theo, chúng ta cần phát khởi bồ đề tâm. Tức khởi lên thái độ, suy nghĩ lớn, phát khởi ý nguyện độ thoát vô lượng, vô biên, hết thảy tất cả chúng sanh khỏi trạng thái khổ đau, và thiết lập tất cả họ vào trạng thái giác ngộ viên mãn. Đó chính là thái độ bồ đề tâm.
Trong phần huấn luyện bồ đề tâm, chúng ta có thực hành bốn tâm vô lượng,
hay tứ vô lượng tâm. Ở đây chúng ta có thể thực hành bằng cách tụng đọc một cách rõ ràng các câu kệ trong nghi quỹ. đồng thời ngẫm nghĩ, và quán chiếu ngữ nghĩa, trong khi tụng. Chúng ta phải thật sự quán chiếu để thực hành bốn tâm vô lượng. Nguyện tất cả chúng sinh được hạnh phúc và nguyên nhân của hạnh phúc; Đây là huấn luyện tâm từ vô lượng.
Nguyện họ thoát khỏi khổ đau và nguyên nhân của khổ đau
Đây là huấn luyện tâm bi vô lượng.
Nguyện họ không bao giờ xa rời hạnh phúc tối thượng vắng bóng khổ đau
Đây là huấn luyện tâm hỷ vô lượng. Sau đó chúng ta nguyện cho tất cả chúng sanh, không xem người này là thân thích, người kia là xa lạ, Nguyện họ hoàn toàn không có tâm phân biệt như thế, mà đối với tất cả chúng sanh không sót một ai khởi tâm mong cầu tất cả đều được giải thoát, và có được hạnh phúc, với tâm không phân biệt. Đây là huấn luyện tâm xả vô lượng. Năng lực của quy y và nuôi dưỡng bồ đề tâm cho phép chúng ta tích luỹ vô lượng các công đức, tịnh hoá các ác nghiệp, thậm chí cả những ác nghiệp nặng nề nhất.
Khi chúng ta bắt đầu buổi thực hành với quy y và phát khởi bồ đề tâm,
nếu chúng ta thật sự quán chiếu khi chúng ta trì tụng, điều này sẽ giúp lắng dịu những phiền não thô lậu, loại trừ chúng, và giúp tâm chúng ta trở nên bình lặng và an tĩnh hơn. Nhờ đó, khi đi vào phần chính của thực hành, chúng ta sẽ có thể thực hành với tâm thái nhẹ nhàng, an tĩnh. Đây là lợi ích khi chúng ta bắt đầu thời khoá với thực hành quy y và phát khởi bồ đề tâm.
Rinpoche vẫn thường nhắc rằng, rất nhiều những ác hạnh,
và nghiệp bất thiện của chúng ta được huân tập liên quan đến hai loại đối tượng. Đầu tiên là tam bảo, với những phẩm chất siêu việt. Do bởi không nhận ra những phẩm chất cao quý của tam bảo, hay xem thường bằng cách này hay cách khác, chúng ta tham gia vào rất nhiều nghiệp bất thiện, và tích luỹ bất thiện nghiệp. Đối tượng thứ hai là tất cả chúng sanh. Vì không nhớ nghĩ đến ân đức nhân từ mà tất cả chúng sanh đã dành cho mình, chúng ta cũng tham gia vào rất nhiều bất thiện nghiệp. Do đó, quy y giúp chúng ta tịnh hoá những ác nghiệp mà chúng ta tích luỹ do không nhớ nghĩ đến những phẩm chất siêu việt của tam bảo. Và phát khởi bồ đề tâm cho phép chúng ta tịnh hoá những ác nghiệp mà chúng ta tích luỹ trong hành xử của mình với tất cả chúng sanh. Như vậy, bằng cách này, rất nhiều nghiệp bất thiện được tịnh hoá chỉ bằng cách quy y và phát khởi bồ đề tâm khi chúng ta bắt đầu thời khoá. Thậm chí ngay cả trong phẩm sám hối của Bồ Tát,
khi thực hành pháp sám hối của Bồ Tát,
chúng ta cũng cần nghĩ về những nghiệp bất thiện mà mình đã tích luỹ trước tam bảo, và những nghiệp bất thiện mà mình đã tích luỹ trước tất cả cha mẹ chúng sanh. Điều này được lặp đi lặp lại trong pháp sám hối của Bồ Tát. Vì vậy, nhớ nghĩ và thực hành theo cách này thật ra là giáo lý của Kinh giáo.
Ngoài ra, ở đầu thời khoá khi chúng ta quy y và phát khởi bồ đề tâm,
chúng ta không chỉ tịnh hoá những bất thiện nghiệp đã làm, mà đồng thời chúng ta cũng phát nguyện, hứa không tham gia vào những hành vi bất thiện. Đây là giới, ngăn chúng ta không tham gia vào những hành vi bất thiện trong tương lai. Tất cả những hành vi bất thiện trước tam bảo, và tất cả những hành vi bất thiện trước chúng sanh, cha mẹ hữu tình. Chúng ta cam kết không tham gia vào bất cứ hành vi bất thiện nào trong tương lai, và sẽ chấp dứt dòng tương tục của những hành vi bất thiện ấy.
Tiếp theo, trong thực hành nghi quỹ, chúng ta quán tưởng Đức Phật
trong không gian trước mặt chúng ta. Đây là thực hành quán tưởng.
Trước khi quán tưởng,
đầu tiên chúng ta nên nhớ rằng bản chất của Đức Phật vốn không. Chúng ta nên có sự hiểu biết về bản tánh vốn không, và tướng duyên khởi.
Chúng ta cần có khả năng khởi lên ý niệm như vậy khi thực hành quán tưởng,
giống như hình ảnh phản chiếu trong gương, hay phản chiếu của ánh trăng trên mặt hồ. Đây là những hiện tượng mà bạn có thể thấy được bằng mắt. Bạn thấy chúng, nghĩa là chúng tồn tại. Thế nhưng, nếu bạn thật sự cố gắng tìm kiếm, thì dù có cố gắng đến đâu, bạn cũng chẳng thể tìm được một vật nào. Theo cách đó, chúng thị hiện, nhưng chúng cũng là không.
Để thực hành quán tưởng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, chúng ta cần có một hình ảnh,
hoặc là tranh vẽ, thangka, hay bức hình, và nên là hình ảnh được vẽ đúng, và đẹp bởi một nghệ nhân có tay nghề, và đã được thánh hoá bởi một vị thầy thật thụ. Đây là những điểm lưu ý về hình ảnh của Đức Phật mà bạn muốn sử dụng trong thực hành hằng ngày. Nếu không, thì nếu bạn có thể có được ảnh chụp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở Bồ Đề Đạo Tràng, thành Ba-la-nại, thì thật sự tuyệt vời, vì đó là bức tượng rất cổ của ngài, đã được thánh hoá, và vô cùng quý giá. Thật tuyệt vời nếu chúng ta có thể sử dụng hình ảnh đó để hỗ trợ cho thực hành quán tưởng.
Khi chúng ta quán tưởng Đức Phật Thích Ca,
ngài ngồi xếp bằng với tay phải duỗi ra trong thế ấn xúc địa, tay trái cầm bình bát trong thế ấn thiền định. Đó là cách chúng ta quán tưởng về Phật Thích Ca Mâu Ni.
Khi quán tưởng, chúng ta cũng nên nghĩ rằng
chỉ đơn giản bằng cách nghĩ tưởng về ngài, tất cả tam độc, nguyên nhân của tái sinh trong luân hồi đều sẽ được loại bỏ. Và đơn giản chỉ bằng cách nghĩ tưởng về ngài, cũng đủ khiến tâm đại bi phát khởi, ngăn chúng ta không kẹt nơi niết bàn tịch tịnh. Chúng ta nên nghĩ đến những lợi ích này khi quán tưởng về Đức Phật.
Khi chúng ta nghĩ về những phẩm chất này của Đức Phật:
đó là chỉ cần nhớ nghĩ, và thấy hình ảnh của Ngài, đã khiến cho những phiền não của chúng ta giảm đi một cách tự nhiên, và xua tan những phiền não thô lậu. Đồng thời, khi nghĩ đến Ngài cùng những phẩm chất cao quý, chúng ta biết không một ai có lòng từ bi như ngài, lòng từ bi vĩ đại khi ngài giúp đỡ và lợi lạc tất cả chúng sanh một cách rộng khắp. Chính nhờ phẩm chất đại từ đại bi nơi ngài, nên chỉ cần nhớ nghĩ đến Đức Phật, cũng đã là nhân duyên để tâm từ bi khai mở trong chúng ta.
Cách thực hành thiền định
dựa vào quán tưởng hình tướng Đức Phật Thích Ca như sau: đầu tiên, chúng ta nhìn vào hình ảnh của ngài, tập làm quen với hình ảnh đó. Sau đó, khi hình ảnh đã dần trở nên rõ ràng hơn trong tâm, chúng ta có thể tập quán tưởng, bằng cách gợi lại hình ảnh trong tâm mà không nhìn vào bức hình. Chúng ta có thể luyện tập từng bước theo cách này. Khi chúng ta đã có thể quán tưởng, hình dung hình ảnh Đức Phật trước mặt chúng ta, chúng ta bắt đầu đi vào phần thực hành giúp tích luỹ vô lượng công đức, và loại bỏ vô số nghiệp bất thiện, và tịnh hoá chúng. Chính là thực hành bảy nhánh.
Chúng ta nhớ tưởng đến tất cả những phẩm chất của Đức Phật.
Chúng ta nên suy nghĩ như sau. Chính ngay trong thời kì ngũ trược này, với lòng từ bi to lớn, Đức Phật đã thị hiện để thi triển mười hai công hạnh nhằm điều phục và làm lợi lạc cho chúng sanh. Vì thế nên, đối với chúng ta, những chúng sanh hiện đang sống trong thời kỳ ác trược, với tuổi thọ vào khoảng 100 năm, thì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ bi hơn bất kỳ Vị Phật nào khác. Ngài đã thệ nguyện đặc biệt làm lợi lạc cho chúng sanh thời đại chúng ta. Nếu không có ngài thị hiện, thì thế giới này sẽ chìm trong bóng tối. Chúng ta sẽ thiếu vắng sự dẫn dắt của ngài. Chúng ta sẽ chẳng biết phải làm gì, những điều cần làm và những điều nên tránh. Từ góc nhìn này, chúng ta nhớ nghĩ rằng tất cả những thiện hạnh mà mọi người thực hiện, tất cả những thực hành từ bỏ những hành vi bất thiện, tiêu cực có thể diễn ra đều duy nhất nhờ vào lòng từ bi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đây là cách chúng ta nhớ nghĩ đến ân đức, phẩm chất, và lòng từ bi của Ngài trong khi thực hành đảnh lễ. Sau đó, cũng tương tự, chúng ta nhớ nghĩ đến tất cả những thiện hạnh, tất cả những mặt tích cực, những điểm tốt mà chúng ta có, và thật sự cúng dường tất cả lên Đức Phật. Kế đến, chúng ta nhớ nghĩ đến tất cả những hành vi tiêu cực mà chúng ta đã tham gia vào, trong quá khứ cho đến hiện tại, khởi lên một cảm giác ăn năn, hối hận, và sám hối tất cả mọi tội lỗi trước Ngài.
Kế tiếp, chúng ta nhớ nghĩ đến tất cả những điều tốt đẹp, tất cả những thiện hạnh
mà tất cả những hành giả, chúng sanh bình phàm, những bậc thánh giả, và chư Phật đã làm, và khởi tâm hoan hỉ.
Sau đó, chúng ta thỉnh cầu Đức Phật chuyển Pháp luân,
Thỉnh ngài trong các thời, luôn thường giảng giáo Pháp thậm thâm, vi diệu.
Kế đến, chúng ta thỉnh cầu tất cả chư Phật, chư Bồ Tát,
tất cả những bậc thi hành công hạnh giác ngộ tiếp tục trụ thế. Cuối cùng, chúng ta hồi hướng tất cả công đức mà chúng ta tích luỹ trong ba thời cho hết thảy chúng sanh để họ giải thoát khỏi trạng thái khổ đau.
Thực hành bảy nhánh cho phép chúng ta loại bỏ tâm ngã mạn, tâm keo kiệt.
Hơn nữa, phần thực hành sám hối cho phép chúng ta tịnh hoá tất cả những ác nghiệp mà mình đã tích luỹ từ quá khứ cho đến nay. Tâm đố kỵ của chúng ta cũng được tịnh hoá.
Rồi cả việc chúng ta không có khả năng hồi hướng công đức của mình,
những chấp trước, bám luyến vào công đức cũng được tịnh hoá.
Để dễ hiểu, chúng ta có thể suy nghĩ rằng
tất cả những phiền não căn bản, như tham, sân, si, đang hiện hữu trong tâm chúng ta, đều được tịnh hoá qua thực hành bảy nhánh. Chúng ta nên suy nghĩ như thế. Những tham luyến, bám chấp mà chúng ta có liên quan đến thân thể sẽ được tịnh hoá qua thực hành lễ lạy. Tất cả những tham luyến, bám chấp liên quan đến những vật mà chúng ta có, hay những việc mà chúng ta đã làm, được tịnh hoá thông qua thực hành cúng dường, và thực hành hồi hướng. Và tất cả những bất thiện hạnh mà chúng ta đã làm, đã tích luỹ từ sân hận, được tịnh hoá thông qua thực hành sám hối.
Chúng ta cần xua tan vô minh, mê muội,
để cho phép ánh sáng trí tuệ có thể toả rạng, đúng không? Sau đó, chúng ta có thực hành thỉnh Phật trụ thế, không nhập niết bàn. Không những trụ thế, chúng ta còn thỉnh chư Phật chuyển Pháp luân, các thời thường giảng Pháp. Đây là phương tiện để giúp ánh sáng quang minh của trí tuệ được toả rạng, xua tan đi bóng tối vô minh.
Khi chúng ta nghĩ đến năm loại phiền não, chúng ta cũng có thể nhớ rằng
trong số các phiền não, thường tâm kiêu mạn sẽ được tịnh hoá qua thực hành lễ lạy, tâm đố kỵ sẽ được tịnh hoá qua thực hành tuỳ hỷ, khởi tâm hoan hỉ với những thiện hạnh mà người khác đã làm. Như vậy, thật sự là qua thực hành bảy nhánh, tất cả các loại phiền não căn bản của chúng ta sẽ được tịnh hoá.
Tiếp đến, với lòng sùng mộ, và tín tâm, chúng ta khẩn nguyện đến Đức Phật,
sau đó trì tụng danh hiệu của Ngài, chính là minh chú Hồng Danh của Đức Phật.
Khi kết thúc trì tụng minh chú.
Thường chúng ta có thể tụng một vòng tràng hạt chẳng hạn. Khi kết thúc, chúng ta quán tưởng ánh sáng phóng ra từ thân Phật chạm đến chúng ta, và tất cả chúng sanh, xua tan tất cả bất thiện nghiệp, cho phép tất cả những phẩm chất tốt đẹp của chúng ta được hiển lộ. Đến đây, chúng ta có thể dành một khoảng thời gian ngắn để thực hành thiền định, và thiền tuệ.
Lúc này, chúng ta an trụ trong trạng thái vắng bóng mọi niệm tưởng,
tất cả mọi ý niệm, dù là niệm tốt, niệm tích cực, hay niệm tiêu cực gắn liền với hành vi tiêu cực, v.v.. Chỉ đơn thuần, chúng ta có thể nghĩ rằng tất cả các phẩm chất tốt đẹp của chúng ta đã hoàn toàn viên mãn, tất cả mọi tiêu cực đã hoàn toàn thanh tịnh. Sau đó chúng ta an trụ nơi đó, không nắm giữ bất cứ thứ gì, dù tích cực hay tiêu cực. Nếu luyện tập thiền định qua thực hành quán tưởng Đức Phật, thì đầu tiên chúng ta chỉ cần chú trọng vào việc luyện tập để gợi nhớ toàn bộ hình ảnh của Đức Phật. Sau khi đã làm được điều này. Khi chúng ta đã có thể gợi nhớ một cách rõ ràng trong tâm trí toàn bộ hình ảnh quán tưởng của Đức Phật, chúng ta có thể dành một chút thời gian quan sát những phần khác nhau trên thân Phật, tập trung tâm trí vào từng phần, như tay ngài, gương mặt ngài, v.v...
Nếu muốn đạt được ổn định thiền,
chúng ta có thể luyện tập bằng nhiều cách để cải thiện dần mức độ ổn định thiền. Một cách mà chúng ta có thể làm là thỉnh thoảng, chúng ta có thể quán tưởng Đức Phật với kích thước rất rất nhỏ, chỉ bằng kích thước của một kí tự chữ cái. Và thỉnh thoảng chúng ta có thể quán tưởng Đức Phật với kích thước cực kỳ lớn, bằng kích thước của núi Tu Di. Thỉnh thoảng, chúng ta có thể quán tưởng từ một thân Phật hoá thành trăm ngàn thân Phật. Hay thỉnh thoảng chúng ta quán tưởng trăm ngàn thân Phật đó nhập thành một thân Phật. Khi tâp luyện quán tưởng theo những cách này, chúng sẽ giúp chúng ta cải thiện dần năng lực quán tưởng và đạt được ổn định thiền. Và một khi chúng ta đã đạt được ổn định thiền ở một mức độ nào đó rồi qua thực hành quán tưởng, chúng ta có thể tiếp tục luyện tập thực hành thiền tuệ, tức an trụ trong trạng thái chân như, trạng thái mà tâm chúng ta vắng bặt tất cả mọi bám chấp vào khái niệm.
Và nếu chúng ta đã có cơ hội nhận trực chỉ từ một vị thầy với đầy đủ phẩm chất,
một vị đạo sư chân chính với những chứng ngộ tối thượng, thì từ trực chỉ đó, chúng ta có thể an trụ trong trạng thái trực nhận mà chúng ta đã từng được trực chỉ. Nếu chúng ta thực hành như thế, thì thật vô cùng thù thắng.
Về thời lượng, thì trong thời thiền của chúng ta,
chúng ta có thể thực hành phương pháp thiền này trong khoảng 5 phút, sau đó tăng dần lên thành 10, 15, 30 phút, v.v... Chúng ta tăng dần thời gian để giúp cho thực hành thiền của chúng ta ngày một tiến xa hơn.
Khi kết thúc phần hành thiền,
chúng ta hồi hướng công đức mà chúng ta đã tích luỹ trong suốt thời khoá thực hành.
Bằng cách nhớ nghĩ đến tất cả chư Phật quá khứ,
tất cả chư Bồ Tát, đến tất cả những phương tiện mà các ngài đã làm để lợi lạc tất cả chúng sanh qua thực hành, phát nguyện, thực thi công hạnh giác ngộ, qua năng lực trí tuệ, từ bi và sức mạnh. Chúng ta cũng suy nghĩ rằng, nguyện con và tất cả chúng sanh cũng có khả năng lợi lạc cho người khác như cách mà các ngài đã làm. Tóm lại, chúng ta nên nghĩ rằng, nguyện con và tất cả chúng sanh không trừ một ai sẽ giải thoát khỏi mọi phiền não, và đạt được trạng thái giác ngộ viên mãn. Đây chỉ là phần giải thích rất ngắn gọn cách thực hành theo Kho Tàng Ân Phước-Nghi Quỹ Phật Thích Ca Mâu Ni.
Cách tôi giải thích về quán tưởng thật ra
là chỉ từ phương diện của người mới thực hành. Trường hợp khi đã thành thục hơn, chúng ta có thể mở rộng phần quán tưởng. Chẳng hạn, không chỉ quán tưởng Đức Phật, chúng ta có thể quán tưởng thêm chư tuỳ tùng, như Tám Đại Bồ Tát, mười sáu vị A-la-hán, v.v.. Như vậy, khi đã phát triển được năng lực quán tưởng, và trãi qua một quá trình thực hành, chúng ta có thể thực hiện theo cách này, mở rộng phần quán tưởng.
Tôi rất vui, và muốn tỏ lòng cám ơn các bạn
vì đã cho tôi cơ hội để chia sẻ một chút về thực hành Phật Pháp.
Giờ chúng ta hãy cùng nhau hồi hướng công đức.
sönam diyi thamché sikpa nyi thopné nyepai dranam phamjé né kyega nachi balap trukpa yi sipai tsolé drowa drölwar shok
video
play-rounded-outline
24:34
 
Languagevi_VN
Mọi người hãy hướng tâm mình về quả giác ngộ và lắng nghe giáo Pháp.
Chủ đề hôm nay của chúng ta là cách sử dụng nghi quỹ Phật Thích Ca Mâu Ni
làm phương tiện để thực hành định, tuệ.
Tựa đề của thực hành này là Kho Tàng Ân Phước-Nghi Quỹ Phật Thích Ca Mâu Ni.
Khi nghe tựa đề, chúng ta có thể hiểu rằng khi sử dụng nghi quỹ này để thực hành, chúng ta sẽ được thọ nhận gia trì, và lòng từ bi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Năng lực gia trì và lòng từ bi của ngài vô cùng rộng lớn được ví như kho tàng không gian.
Hai ngàn năm trăm năm trước,
người Thầy vĩ đại của chúng ta, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đản sanh ở Lâm Tỳ Ni. Ngài giác ngộ ở Bồ Đề Đạo Tràng, tại thành Ba-la-nại. Sau đó bắt đầu giảng Pháp ở nhiều nơi, bao gồm Vườn Lộc Uyển, và nhiều nơi khác. Ngài giảng Pháp bằng nhiều cách phù hợp với từng loại chúng sanh, giải thoát họ khỏi phiền não khổ. Lòng từ bi của Ngài vô cùng vĩ đại. Phật Pháp bắt nguồn từ Ấn Độ. Đức Phật bắt đầu thuyết Pháp nơi đây. Nhưng sau đó, Phật giáo được truyền từ Ấn Độ đến khắp nơi trên thế giới. Và ở bất cứ nơi nào Phật Pháp được truyền đến, vô số chúng sanh đã đạt được thành tựu nhờ thực hành những giáo Pháp của ngài. Tất cả những điều này có thể xảy ra là nhờ lòng từ bi, và năng lực gia trì của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Khi chúng ta thực hành thiền và trì tụng Nghi Quỹ Phật Thích Ca Mâu Ni,
trước khi đi vào phần thực hành chính, chúng ta phải quy y và phát khởi bồ đề tâm.
Đây là phần đầu tiên trong cuốn nghi quỹ.
Thực hành quy y là cánh cổng
hay cánh cửa đầu tiên khi chúng ta bước vào đạo lộ giải thoát. Khi quy y, chúng ta phải có tín tâm vào tam bảo. Ở đây chúng ta nói đến ba cấp độ tín tâm - lòng tin kính ngưỡng, lòng tin tha thiết, và xác tín.
So với tất cả những bậc thầy truyền dạy về con đường giải thoát,
thì Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là người thầy đặc biệt nhất,
bởi những phẩm chất duy nhất chỉ mình ngài có,
và giáo Pháp đặc biệt mà ngài giảng dạy. Giáo pháp đặc biệt mà ngài giảng dạy là gì? Chính là Phật Pháp. Gốc rễ, hay tinh tuý của những bài giảng của ngài chính là giáo lý về tánh không và duyên khởi.
Và giáo lý về tánh không và duyên khởi lại dựa trên giáo lý nền tảng
Giáo lý nền tảng này chính là: Tất cả các pháp giả hợp là vô thường, Tất cả các pháp nhiễm ô đều là khổ, Tất cả các pháp đều là không và vô ngã, và Niết bàn là tịch tịnh, giải thoát. Đây chính là nền tảng của giáo lý về Tánh Không và Duyên Khởi.
Tất cả chúng ta đều sai lầm trong cách nhận thức sự vật hiện tượng,
chấp trước và bám chấp vào sự vật hiện tượng, xem chúng là thật có. Thật ra, tất cả giáo lý của Đức Phật đơn thuần chỉ là phương thuốc giúp loại bỏ những kiểu nhận thức sai lầm, tham đắm và bám chấp này. Do bởi bám chấp và chấp trước vào thực tại, mà tâm thức của chúng ta bị giới hạn, rất hạn hẹp. Chúng ta không thể suy nghĩ một cách thông thoáng, và sâu rộng. Nhưng một khi chúng ta thoát khỏi bám chấp và chấp trước vào thực tại, thì tâm của chúng ta sẽ trở nên thư giãn, an lạc và cởi mở hơn. Nó sẽ có khả năng đào sâu hơn. Nguyên nhân thật sự của việc bám chấp rằng mọi thứ là thật có, và chấp trước vào thực tại chính là mặc định rằng tất cả mọi thứ sẽ tồn tại mãi mãi. Phương pháp đối trị cho kiểu bám chấp vào suy nghĩ rằng tất cả mọi thứ sẽ tồn tại lâu dài, chính là điều đầu tiên mà Đức Phật dạy.
Ngài dạy rằng, tất cả các pháp là vô thường, là để đối trị với loại chấp trước này của chúng ta.

Giáo lý này được bao hàm trong Nhị Đế
và Tứ Diệu Đế của Đức Phật. Những người tập luyện và thực hành những giáo lý này được gọi là Tăng đoàn.
Khi quy y, chúng ta xem Phật là một y sĩ vô cùng điêu luyện,
Pháp là thuốc, và Tăng là y tá - người trợ giúp chúng ta uống thuốc và chữa bệnh. Tiếp theo, chúng ta cần phát khởi bồ đề tâm. Tức khởi lên thái độ, suy nghĩ lớn, phát khởi ý nguyện độ thoát vô lượng, vô biên, hết thảy tất cả chúng sanh khỏi trạng thái khổ đau, và thiết lập tất cả họ vào trạng thái giác ngộ viên mãn. Đó chính là thái độ bồ đề tâm.
Trong phần huấn luyện bồ đề tâm, chúng ta có thực hành bốn tâm vô lượng,
hay tứ vô lượng tâm. Ở đây chúng ta có thể thực hành bằng cách tụng đọc một cách rõ ràng các câu kệ trong nghi quỹ. đồng thời ngẫm nghĩ, và quán chiếu ngữ nghĩa, trong khi tụng. Chúng ta phải thật sự quán chiếu để thực hành bốn tâm vô lượng. Nguyện tất cả chúng sinh được hạnh phúc và nguyên nhân của hạnh phúc; Đây là huấn luyện tâm từ vô lượng.
Nguyện họ thoát khỏi khổ đau và nguyên nhân của khổ đau
Đây là huấn luyện tâm bi vô lượng.
Nguyện họ không bao giờ xa rời hạnh phúc tối thượng vắng bóng khổ đau
Đây là huấn luyện tâm hỷ vô lượng. Sau đó chúng ta nguyện cho tất cả chúng sanh, không xem người này là thân thích, người kia là xa lạ, Nguyện họ hoàn toàn không có tâm phân biệt như thế, mà đối với tất cả chúng sanh không sót một ai khởi tâm mong cầu tất cả đều được giải thoát, và có được hạnh phúc, với tâm không phân biệt. Đây là huấn luyện tâm xả vô lượng. Năng lực của quy y và nuôi dưỡng bồ đề tâm cho phép chúng ta tích luỹ vô lượng các công đức, tịnh hoá các ác nghiệp, thậm chí cả những ác nghiệp nặng nề nhất.
Khi chúng ta bắt đầu buổi thực hành với quy y và phát khởi bồ đề tâm,
nếu chúng ta thật sự quán chiếu khi chúng ta trì tụng, điều này sẽ giúp lắng dịu những phiền não thô lậu, loại trừ chúng, và giúp tâm chúng ta trở nên bình lặng và an tĩnh hơn. Nhờ đó, khi đi vào phần chính của thực hành, chúng ta sẽ có thể thực hành với tâm thái nhẹ nhàng, an tĩnh. Đây là lợi ích khi chúng ta bắt đầu thời khoá với thực hành quy y và phát khởi bồ đề tâm.
Rinpoche vẫn thường nhắc rằng, rất nhiều những ác hạnh,
và nghiệp bất thiện của chúng ta được huân tập liên quan đến hai loại đối tượng. Đầu tiên là tam bảo, với những phẩm chất siêu việt. Do bởi không nhận ra những phẩm chất cao quý của tam bảo, hay xem thường bằng cách này hay cách khác, chúng ta tham gia vào rất nhiều nghiệp bất thiện, và tích luỹ bất thiện nghiệp. Đối tượng thứ hai là tất cả chúng sanh. Vì không nhớ nghĩ đến ân đức nhân từ mà tất cả chúng sanh đã dành cho mình, chúng ta cũng tham gia vào rất nhiều bất thiện nghiệp. Do đó, quy y giúp chúng ta tịnh hoá những ác nghiệp mà chúng ta tích luỹ do không nhớ nghĩ đến những phẩm chất siêu việt của tam bảo. Và phát khởi bồ đề tâm cho phép chúng ta tịnh hoá những ác nghiệp mà chúng ta tích luỹ trong hành xử của mình với tất cả chúng sanh. Như vậy, bằng cách này, rất nhiều nghiệp bất thiện được tịnh hoá chỉ bằng cách quy y và phát khởi bồ đề tâm khi chúng ta bắt đầu thời khoá. Thậm chí ngay cả trong phẩm sám hối của Bồ Tát,
khi thực hành pháp sám hối của Bồ Tát,
chúng ta cũng cần nghĩ về những nghiệp bất thiện mà mình đã tích luỹ trước tam bảo, và những nghiệp bất thiện mà mình đã tích luỹ trước tất cả cha mẹ chúng sanh. Điều này được lặp đi lặp lại trong pháp sám hối của Bồ Tát. Vì vậy, nhớ nghĩ và thực hành theo cách này thật ra là giáo lý của Kinh giáo.
Ngoài ra, ở đầu thời khoá khi chúng ta quy y và phát khởi bồ đề tâm,
chúng ta không chỉ tịnh hoá những bất thiện nghiệp đã làm, mà đồng thời chúng ta cũng phát nguyện, hứa không tham gia vào những hành vi bất thiện. Đây là giới, ngăn chúng ta không tham gia vào những hành vi bất thiện trong tương lai. Tất cả những hành vi bất thiện trước tam bảo, và tất cả những hành vi bất thiện trước chúng sanh, cha mẹ hữu tình. Chúng ta cam kết không tham gia vào bất cứ hành vi bất thiện nào trong tương lai, và sẽ chấp dứt dòng tương tục của những hành vi bất thiện ấy.
Tiếp theo, trong thực hành nghi quỹ, chúng ta quán tưởng Đức Phật
trong không gian trước mặt chúng ta. Đây là thực hành quán tưởng.
Trước khi quán tưởng,
đầu tiên chúng ta nên nhớ rằng bản chất của Đức Phật vốn không. Chúng ta nên có sự hiểu biết về bản tánh vốn không, và tướng duyên khởi.
Chúng ta cần có khả năng khởi lên ý niệm như vậy khi thực hành quán tưởng,
giống như hình ảnh phản chiếu trong gương, hay phản chiếu của ánh trăng trên mặt hồ. Đây là những hiện tượng mà bạn có thể thấy được bằng mắt. Bạn thấy chúng, nghĩa là chúng tồn tại. Thế nhưng, nếu bạn thật sự cố gắng tìm kiếm, thì dù có cố gắng đến đâu, bạn cũng chẳng thể tìm được một vật nào. Theo cách đó, chúng thị hiện, nhưng chúng cũng là không.
Để thực hành quán tưởng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, chúng ta cần có một hình ảnh,
hoặc là tranh vẽ, thangka, hay bức hình, và nên là hình ảnh được vẽ đúng, và đẹp bởi một nghệ nhân có tay nghề, và đã được thánh hoá bởi một vị thầy thật thụ. Đây là những điểm lưu ý về hình ảnh của Đức Phật mà bạn muốn sử dụng trong thực hành hằng ngày. Nếu không, thì nếu bạn có thể có được ảnh chụp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở Bồ Đề Đạo Tràng, thành Ba-la-nại, thì thật sự tuyệt vời, vì đó là bức tượng rất cổ của ngài, đã được thánh hoá, và vô cùng quý giá. Thật tuyệt vời nếu chúng ta có thể sử dụng hình ảnh đó để hỗ trợ cho thực hành quán tưởng.
Khi chúng ta quán tưởng Đức Phật Thích Ca,
ngài ngồi xếp bằng với tay phải duỗi ra trong thế ấn xúc địa, tay trái cầm bình bát trong thế ấn thiền định. Đó là cách chúng ta quán tưởng về Phật Thích Ca Mâu Ni.
Khi quán tưởng, chúng ta cũng nên nghĩ rằng
chỉ đơn giản bằng cách nghĩ tưởng về ngài, tất cả tam độc, nguyên nhân của tái sinh trong luân hồi đều sẽ được loại bỏ. Và đơn giản chỉ bằng cách nghĩ tưởng về ngài, cũng đủ khiến tâm đại bi phát khởi, ngăn chúng ta không kẹt nơi niết bàn tịch tịnh. Chúng ta nên nghĩ đến những lợi ích này khi quán tưởng về Đức Phật.
Khi chúng ta nghĩ về những phẩm chất này của Đức Phật:
đó là chỉ cần nhớ nghĩ, và thấy hình ảnh của Ngài, đã khiến cho những phiền não của chúng ta giảm đi một cách tự nhiên, và xua tan những phiền não thô lậu. Đồng thời, khi nghĩ đến Ngài cùng những phẩm chất cao quý, chúng ta biết không một ai có lòng từ bi như ngài, lòng từ bi vĩ đại khi ngài giúp đỡ và lợi lạc tất cả chúng sanh một cách rộng khắp. Chính nhờ phẩm chất đại từ đại bi nơi ngài, nên chỉ cần nhớ nghĩ đến Đức Phật, cũng đã là nhân duyên để tâm từ bi khai mở trong chúng ta.
Cách thực hành thiền định
dựa vào quán tưởng hình tướng Đức Phật Thích Ca như sau: đầu tiên, chúng ta nhìn vào hình ảnh của ngài, tập làm quen với hình ảnh đó. Sau đó, khi hình ảnh đã dần trở nên rõ ràng hơn trong tâm, chúng ta có thể tập quán tưởng, bằng cách gợi lại hình ảnh trong tâm mà không nhìn vào bức hình. Chúng ta có thể luyện tập từng bước theo cách này. Khi chúng ta đã có thể quán tưởng, hình dung hình ảnh Đức Phật trước mặt chúng ta, chúng ta bắt đầu đi vào phần thực hành giúp tích luỹ vô lượng công đức, và loại bỏ vô số nghiệp bất thiện, và tịnh hoá chúng. Chính là thực hành bảy nhánh.
Chúng ta nhớ tưởng đến tất cả những phẩm chất của Đức Phật.
Chúng ta nên suy nghĩ như sau. Chính ngay trong thời kì ngũ trược này, với lòng từ bi to lớn, Đức Phật đã thị hiện để thi triển mười hai công hạnh nhằm điều phục và làm lợi lạc cho chúng sanh. Vì thế nên, đối với chúng ta, những chúng sanh hiện đang sống trong thời kỳ ác trược, với tuổi thọ vào khoảng 100 năm, thì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ bi hơn bất kỳ Vị Phật nào khác. Ngài đã thệ nguyện đặc biệt làm lợi lạc cho chúng sanh thời đại chúng ta. Nếu không có ngài thị hiện, thì thế giới này sẽ chìm trong bóng tối. Chúng ta sẽ thiếu vắng sự dẫn dắt của ngài. Chúng ta sẽ chẳng biết phải làm gì, những điều cần làm và những điều nên tránh. Từ góc nhìn này, chúng ta nhớ nghĩ rằng tất cả những thiện hạnh mà mọi người thực hiện, tất cả những thực hành từ bỏ những hành vi bất thiện, tiêu cực có thể diễn ra đều duy nhất nhờ vào lòng từ bi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đây là cách chúng ta nhớ nghĩ đến ân đức, phẩm chất, và lòng từ bi của Ngài trong khi thực hành đảnh lễ. Sau đó, cũng tương tự, chúng ta nhớ nghĩ đến tất cả những thiện hạnh, tất cả những mặt tích cực, những điểm tốt mà chúng ta có, và thật sự cúng dường tất cả lên Đức Phật. Kế đến, chúng ta nhớ nghĩ đến tất cả những hành vi tiêu cực mà chúng ta đã tham gia vào, trong quá khứ cho đến hiện tại, khởi lên một cảm giác ăn năn, hối hận, và sám hối tất cả mọi tội lỗi trước Ngài.
Kế tiếp, chúng ta nhớ nghĩ đến tất cả những điều tốt đẹp, tất cả những thiện hạnh
mà tất cả những hành giả, chúng sanh bình phàm, những bậc thánh giả, và chư Phật đã làm, và khởi tâm hoan hỉ.
Sau đó, chúng ta thỉnh cầu Đức Phật chuyển Pháp luân,
Thỉnh ngài trong các thời, luôn thường giảng giáo Pháp thậm thâm, vi diệu.
Kế đến, chúng ta thỉnh cầu tất cả chư Phật, chư Bồ Tát,
tất cả những bậc thi hành công hạnh giác ngộ tiếp tục trụ thế. Cuối cùng, chúng ta hồi hướng tất cả công đức mà chúng ta tích luỹ trong ba thời cho hết thảy chúng sanh để họ giải thoát khỏi trạng thái khổ đau.
Thực hành bảy nhánh cho phép chúng ta loại bỏ tâm ngã mạn, tâm keo kiệt.
Hơn nữa, phần thực hành sám hối cho phép chúng ta tịnh hoá tất cả những ác nghiệp mà mình đã tích luỹ từ quá khứ cho đến nay. Tâm đố kỵ của chúng ta cũng được tịnh hoá.
Rồi cả việc chúng ta không có khả năng hồi hướng công đức của mình,
những chấp trước, bám luyến vào công đức cũng được tịnh hoá.
Để dễ hiểu, chúng ta có thể suy nghĩ rằng
tất cả những phiền não căn bản, như tham, sân, si, đang hiện hữu trong tâm chúng ta, đều được tịnh hoá qua thực hành bảy nhánh. Chúng ta nên suy nghĩ như thế. Những tham luyến, bám chấp mà chúng ta có liên quan đến thân thể sẽ được tịnh hoá qua thực hành lễ lạy. Tất cả những tham luyến, bám chấp liên quan đến những vật mà chúng ta có, hay những việc mà chúng ta đã làm, được tịnh hoá thông qua thực hành cúng dường, và thực hành hồi hướng. Và tất cả những bất thiện hạnh mà chúng ta đã làm, đã tích luỹ từ sân hận, được tịnh hoá thông qua thực hành sám hối.
Chúng ta cần xua tan vô minh, mê muội,
để cho phép ánh sáng trí tuệ có thể toả rạng, đúng không? Sau đó, chúng ta có thực hành thỉnh Phật trụ thế, không nhập niết bàn. Không những trụ thế, chúng ta còn thỉnh chư Phật chuyển Pháp luân, các thời thường giảng Pháp. Đây là phương tiện để giúp ánh sáng quang minh của trí tuệ được toả rạng, xua tan đi bóng tối vô minh.
Khi chúng ta nghĩ đến năm loại phiền não, chúng ta cũng có thể nhớ rằng
trong số các phiền não, thường tâm kiêu mạn sẽ được tịnh hoá qua thực hành lễ lạy, tâm đố kỵ sẽ được tịnh hoá qua thực hành tuỳ hỷ, khởi tâm hoan hỉ với những thiện hạnh mà người khác đã làm. Như vậy, thật sự là qua thực hành bảy nhánh, tất cả các loại phiền não căn bản của chúng ta sẽ được tịnh hoá.
Tiếp đến, với lòng sùng mộ, và tín tâm, chúng ta khẩn nguyện đến Đức Phật,
sau đó trì tụng danh hiệu của Ngài, chính là minh chú Hồng Danh của Đức Phật.
Khi kết thúc trì tụng minh chú.
Thường chúng ta có thể tụng một vòng tràng hạt chẳng hạn. Khi kết thúc, chúng ta quán tưởng ánh sáng phóng ra từ thân Phật chạm đến chúng ta, và tất cả chúng sanh, xua tan tất cả bất thiện nghiệp, cho phép tất cả những phẩm chất tốt đẹp của chúng ta được hiển lộ. Đến đây, chúng ta có thể dành một khoảng thời gian ngắn để thực hành thiền định, và thiền tuệ.
Lúc này, chúng ta an trụ trong trạng thái vắng bóng mọi niệm tưởng,
tất cả mọi ý niệm, dù là niệm tốt, niệm tích cực, hay niệm tiêu cực gắn liền với hành vi tiêu cực, v.v.. Chỉ đơn thuần, chúng ta có thể nghĩ rằng tất cả các phẩm chất tốt đẹp của chúng ta đã hoàn toàn viên mãn, tất cả mọi tiêu cực đã hoàn toàn thanh tịnh. Sau đó chúng ta an trụ nơi đó, không nắm giữ bất cứ thứ gì, dù tích cực hay tiêu cực. Nếu luyện tập thiền định qua thực hành quán tưởng Đức Phật, thì đầu tiên chúng ta chỉ cần chú trọng vào việc luyện tập để gợi nhớ toàn bộ hình ảnh của Đức Phật. Sau khi đã làm được điều này. Khi chúng ta đã có thể gợi nhớ một cách rõ ràng trong tâm trí toàn bộ hình ảnh quán tưởng của Đức Phật, chúng ta có thể dành một chút thời gian quan sát những phần khác nhau trên thân Phật, tập trung tâm trí vào từng phần, như tay ngài, gương mặt ngài, v.v...
Nếu muốn đạt được ổn định thiền,
chúng ta có thể luyện tập bằng nhiều cách để cải thiện dần mức độ ổn định thiền. Một cách mà chúng ta có thể làm là thỉnh thoảng, chúng ta có thể quán tưởng Đức Phật với kích thước rất rất nhỏ, chỉ bằng kích thước của một kí tự chữ cái. Và thỉnh thoảng chúng ta có thể quán tưởng Đức Phật với kích thước cực kỳ lớn, bằng kích thước của núi Tu Di. Thỉnh thoảng, chúng ta có thể quán tưởng từ một thân Phật hoá thành trăm ngàn thân Phật. Hay thỉnh thoảng chúng ta quán tưởng trăm ngàn thân Phật đó nhập thành một thân Phật. Khi tâp luyện quán tưởng theo những cách này, chúng sẽ giúp chúng ta cải thiện dần năng lực quán tưởng và đạt được ổn định thiền. Và một khi chúng ta đã đạt được ổn định thiền ở một mức độ nào đó rồi qua thực hành quán tưởng, chúng ta có thể tiếp tục luyện tập thực hành thiền tuệ, tức an trụ trong trạng thái chân như, trạng thái mà tâm chúng ta vắng bặt tất cả mọi bám chấp vào khái niệm.
Và nếu chúng ta đã có cơ hội nhận trực chỉ từ một vị thầy với đầy đủ phẩm chất,
một vị đạo sư chân chính với những chứng ngộ tối thượng, thì từ trực chỉ đó, chúng ta có thể an trụ trong trạng thái trực nhận mà chúng ta đã từng được trực chỉ. Nếu chúng ta thực hành như thế, thì thật vô cùng thù thắng.
Về thời lượng, thì trong thời thiền của chúng ta,
chúng ta có thể thực hành phương pháp thiền này trong khoảng 5 phút, sau đó tăng dần lên thành 10, 15, 30 phút, v.v... Chúng ta tăng dần thời gian để giúp cho thực hành thiền của chúng ta ngày một tiến xa hơn.
Khi kết thúc phần hành thiền,
chúng ta hồi hướng công đức mà chúng ta đã tích luỹ trong suốt thời khoá thực hành.
Bằng cách nhớ nghĩ đến tất cả chư Phật quá khứ,
tất cả chư Bồ Tát, đến tất cả những phương tiện mà các ngài đã làm để lợi lạc tất cả chúng sanh qua thực hành, phát nguyện, thực thi công hạnh giác ngộ, qua năng lực trí tuệ, từ bi và sức mạnh. Chúng ta cũng suy nghĩ rằng, nguyện con và tất cả chúng sanh cũng có khả năng lợi lạc cho người khác như cách mà các ngài đã làm. Tóm lại, chúng ta nên nghĩ rằng, nguyện con và tất cả chúng sanh không trừ một ai sẽ giải thoát khỏi mọi phiền não, và đạt được trạng thái giác ngộ viên mãn. Đây chỉ là phần giải thích rất ngắn gọn cách thực hành theo Kho Tàng Ân Phước-Nghi Quỹ Phật Thích Ca Mâu Ni.
Cách tôi giải thích về quán tưởng thật ra
là chỉ từ phương diện của người mới thực hành. Trường hợp khi đã thành thục hơn, chúng ta có thể mở rộng phần quán tưởng. Chẳng hạn, không chỉ quán tưởng Đức Phật, chúng ta có thể quán tưởng thêm chư tuỳ tùng, như Tám Đại Bồ Tát, mười sáu vị A-la-hán, v.v.. Như vậy, khi đã phát triển được năng lực quán tưởng, và trãi qua một quá trình thực hành, chúng ta có thể thực hiện theo cách này, mở rộng phần quán tưởng.
Tôi rất vui, và muốn tỏ lòng cám ơn các bạn
vì đã cho tôi cơ hội để chia sẻ một chút về thực hành Phật Pháp.
Giờ chúng ta hãy cùng nhau hồi hướng công đức.
sönam diyi thamché sikpa nyi thopné nyepai dranam phamjé né kyega nachi balap trukpa yi sipai tsolé drowa drölwar shok
Scroll to Top